Hội làng có bỏi đón mừng Xuân
Chật ních người xem bốn góc sân
Oai vệ cụ bô ngồi khảo chịch
Dập dồn trống khẩu giục đi quân
Ông già bí nước tai bưng miết
Chàng trẻ hơn Xe mắt sáng dần
Ngoảnh lại ngó tìm cô yếm đỏ
Nụ cười cảm phục giấu trong khăn
Related Posts
Cờ cười: Ai lừa ai?
- Hàng Dương
- 01/05/2006
- 0
– Anh A: Sao lấy được cô vợ tuyệt vời thế? Có “thủ thuật” gì không?
– Anh B: à chỉ là rủ cô ấy chơi cờ, khi thấy tôi – một cao thủ trong làng cờ – phải đầu hàng thua cờ và rơm rớm nước mắt. Cô ấy xúc động và ngồi an ủi tôi.
– Chắc cậu giả bộ thua cờ phải không – Anh A tinh quái hỏi.
– Ừ phải rồi! Nhưng mãi sau này tôi mới biết cô ấy rất ghét chơi cờ – Anh B buồn bã trả lời.
Nguyễn Thành Bảo tại giải Các danh thủ châu Á, Vũng Tàu 2001
- Tùng Lâm
- 11/10/2005
- 0
[img maxheight=200 maxwidth=200 ]xq28-0.jpg;right;Trềnh A Sáng đang đấu cờ với Nguyễn Thành Bảo (phải) tại giải[/img]Trước giải này đã có một bài viết về Thành Bảo trong đó cho rằng thành tích năm 1998 ở giải cờ Tướng trẻ của Bảo ở Giang Tô là thành tích kiệt xuất nhất của Việt Nam trên kỳ đài quốc tế. Nên hiểu rằng “kiệt xuất” ở đây có nghĩa là Thành Bảo đã đem được một chiếc cúp vàng vốn chưa bao giờ rời khỏi Trung Quốc về Việt Nam, cũng như Nguyễn Ngọc Trường Sơn đem được chiếc cúp vàng lứa tuổi 10 cờ Vua thế giới về cho đất nước, vì vậy trong năm 2000 Sơn đã được chọn là vận động viên tiêu biểu của thể thao Việt Nam. Nhưng xét về thực chất thì Trường Sơn chưa thể bằng được Đào Thiên Hải, Nguyễn Anh Dũng hay Hoàng Thanh Trang. Khoảng cách từ Sơn đến họ còn rất xa. Thành Bảo cũng vậy.
Điều này hoàn toàn đúng ngay khi ván đầu Bảo đụng phải Trịnh A Sáng, Bảo đã phải đầu hàng. Trong các giải hạng nhất toàn quốc Thành Bảo cũng chỉ xếp thứ 10, nghĩa là còn xếp sau ít nhất 9 kỳ thủ nữa, khoảng cách giữa Bảo đối với Trịnh A Sáng, Trương Á Minh, Mai Thanh Minh, Trần Văn Ninh… không phải ngày một ngày hai mà co ngắn được.
[img]xq117-0.jpg;right;Nhiếp Thiết Văn (vô địch) đang đấu với Hồng Trí (nhì) tại Giải các danh thủ châu Á[/img]Tuy nhiên Bảo lại có một thế mạnh là lùng, rất quý hiếm là đối chọi khá thành công với các tay cờ Trung Quốc, không chỉ ở Giang Tô mà còn ở cả giải này. Chính nhận ra điều này mà bộ môn cờ Bà Rịa Vũng Tàu đã hoàn toàn đúng đắn khi chọn Thành Bảo vào đội Việt Nam. Trước hai tay cờ mạnh nhất giải người Trung Quốc thì chỉ có duy nhất Thành Bảo là đối chọi thành công. Trong lúc Trịnh A Sáng mới gặp có một mình Nhiếp Thiết Văn thì đã bị thua, còn Thành Bảo gặp cả hai nhưng đã đánh hoàn toàn ngang cơ: Với Hồng Trí, Bảo có một ván thắng một ván thua, còn với Thiết Văn là một ván hòa. Như vậy tính tổng quát trong tất cả các lần gặp các kỳ thủ Trung Quốc cùng trang lứa với mình (4 lần gặp, trong đó 3 lần gặp Hồng Trí và một lần gặp Nhiếp Thiết Văn) thì Bảo vẫn là kẻ thắng với tỷ số tổng cộng là 2,5-1,5.
Ván thứ nhất cho thấy dù Hồng Trí đã chuẩn bị hết sức công phu và kỹ càng cho trận phục thù mang tính quốc gia này nhưng vẫn bị Thành Bảo cho ăn đòn tơi tả, biết mà không sao gượng dậy, chống đỡ nổi.
Tại sao các kỳ thủ trẻ Trung Quốc lại “kỵ rơ” Thành Bảo như vậy? Người thì nói vì Thành Bảo có lối đánh rất quái ác, bất thường, sáng tạo và tràn đầy ngẫu hứng. Nó khác hẳn với lối chơi bài bản, chắc chắn, toàn diện và sâu sắc về lý thuyết, đầy tính cân nhắc trước sau, ít dám mạo hiểm của các kỳ thủ Trung Hoa. Người thì cho rằng Bảo là một tài năng đặc biệt về cờ, chơi rất “rừng”, không hề biết “kính nể” một tên tuổi nào, một quốc gia nào hết dù tên tuổi hay quốc gia đó có lừng danh tới mấy, điều này khiến Thành Bảo vào cuộc nào cũng hết sức thoải mái, đánh hết công lực của mình, không biết “khớp” không biết “run” là gì.
Đúng ra làng cờ Việt Nam rất cần có những kỳ thủ như thế, vì xưa nay có dư luận cho rằng hễ cứ đụng phải các cao thủ Trung Quốc là không ít các kỳ thủ Việt Nam lại mang nặng tư tưởng “hòa được là tốt lắm rồi”. Mà đã có định kiến như vậy thì bao giờ mới vượt qua họ nổi?
Tuy nhiên cũng chính Thành Bảo chứ không phải ai khác đã tự làm hại mình, trong khi lẽ ra hoàn toàn có cơ may để lọt vào trận chung kết tranh cúp vàng và cúp bạc. Bảo rốt cuộc tự mình rơi tõm xuống tận vị trí thứ 8, một vị trí không vẻ vang và không tương xứng chút nào.
Vì sao?
Câu hỏi này đã làm dấy lên những tranh luận sôi nổi. Có ý kiến cho rằng lẽ ra Bảo phải xếp ít nhất ở vị trí thứ tư vì Bảo đã vượt qua vòng đấu loại, lại vượt tiếp qua vòng tứ kết để vào tới bán kết (còn lại bốn người), thế nhưng vì thể thức thi đấu ở gải này rất lạ là hai người không vào được trận chung kết phải xuống đánh với 14 người còn lại theo hệ Thụy Sĩ (??!) để phân thứ hạng. Như thế thì việc đặt ra tứ kết, bán kết để chọn lọc chẳng có ý nghĩa gì hết. Chính điều lệ này đã làm hại Thành Bảo!
Tuy nhiên phần lớn lại cho rằng: điều trên là có thật và đúng là bất công, nhưng lỗi chính lại là ở Thành Bảo mà bất cẩn lớn nhất là ở ván thứ hai gặp lại Hồng Trí. Dù được đi tiên để dẫn dắt ván cờ nhưng Bảo đã chọn một phương án sai, một phương án mà chính Bảo “không thuộc bài” trong lúc đối phương thì lại nắm quá chắc. Chính sự lầm đường lạc lối ngay từ đầu khiến cho Bảo sau phần khai cuộc đã phát cuống lên, không còn nhớ phải đi như thế nào. Sau này mới té ngửa ra rằng ván này đã từng được Đặng Cửu Tùng Lâm chơi với Lại Việt Trường y hệt không lâu trước đó và đã được phân tích kỹ cho thấy bên tiên hoàn toàn không thua, thậm chí theo một số nhà chuyên môn và các kỳ thủ có đẳng cấp thì nếu đi chính xác thì bên tiên đã thắng.
Bảo đã không biết gì về lý thuyết cả, cũng như không hề đọc tạp chí Người Chơi cờ số 7 năm 2000 đã có bài phân tích khá kỹ về thế trận này. Nếu chỉ chịu khó liếc mắt qua một chút thôi thì Bảo không thể thua được. Chỉ thiếu một chút lý thuyết sờ sờ trước mắt mình mà Thành Bảo đã thua ván quan trọng nhất, then chốt nhất trước một đối thủ vốn đã rất e ngại mình. Đây là nhược điểm cơ bản nhất, là khiếm khuyết nguy hiểm nhất của Bảo mà nếu không kịp thời và cổ gắng học hỏi, bổ khuyết thì sự nghiệp cờ của Bảo khó tiến xa.
Cũng còn một yếu điểm nữa của Bảo là thiếu sự bình tĩnh, thiếu kiên trì và quyết tâm tới cùng mà điển hình là thua ván cuối rất ngớ ngẩn. Nó hoàn toàn không phải do sức cờ của Bảo mà chính là tâm lý, khi thấy mình không còn đích cao để vươn tới, khi bị một vài tác động tâm lý từ bên ngoài, Bảo đã mất bình tĩnh và cam chịu bỏ cuộc sớm. Thật là đáng hổ thẹn cho một kỳ thủ được trao cho gánh vác trọng trách quốc gia. Đâu phải anh ta chỉ đánh cho riêng mình mà còn vì danh dự đất nước. Thông cảm là Bảo còn trẻ, nhưng nhược điểm này phải sớm được khắc phục, nếu không sẽ ảnh hưởng lớn đến con đường kỳ nghệ của anh sau này.
Dù sao giải lần này cũng cho thấy sức cờ của Thành Bảo vẫn còn rất mạnh mẽ, lối chơi đối công mãnh liệt, đánh theo kiểu “xáp la cà” với những chiêu lạ khiến đối phương không lường trước được, Thành Bảo vẫn là niềm hy vọng lớn của làng cờ Việt Nam trong cuộc đối đầu vô cùng gian khổ với các đại cường quốc cờ hàng đầu thế giới trong tương lai. Lớp cờ trẻ hiện nay tìm được những người chơi cờ có công lực như thế thật hiếm. Cũng phải nói tới rủi ro của Bảo là ở giải này toàn gặp những kỳ thủ khó chơi nhất, toàn là các Đặc cấp quốc tế đại sư hùng mạnh nhất. Tuy nhiên trong cái rủi ro có cái may, đây là một dịp tốt để những nhà quản lý cũng như bản thân Bảo rút kinh nghiệm, tiếp tục phát huy những cái đặc sắc của mình, đọc và nghiên cứu thêm lý thuyết để dẫn tới thành công ở những giải sau.
[b]Bình chú của Bạn cờ:[/b]
*Tên phiên âm tiếng Anh của Nhiếp Thiết Văn là Nie TieWen, Hồng Trí là Hong Zhi
*Thành Bảo năm 2005 đã khác nhiều Thành Bảo năm 2001: Bảo đã cải thiện ngoạn mục vị trí so với lớp đàn anh. Xin xem kết quả giải A2 năm 2005 (Tin vắn ngày 10/10).
Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương đông (5)
- Tùng Lâm
- 04/03/2006
- 0
Như vậy tất cả phải chăng cờ tướng đã hoàn hảo, không còn chỗ nào khiếm khuyết? Như đã nói trên, đối với những người nước ngoài thì một nhược điểm lớn của cờ tướng đã lộ rõ: hình dạng quân cờ khiến họ rất khó tiếp thu (hay chính người Trung Hoa đã từng không muốn cho ngoại bang chơi loại cờ của mình? chúng ta không còn lạ chính sách “bế quan tỏa cảng” hàng trăm năm của các triều đại Trung Quốc, cho mãi tới tận bây giờ những đề nghị cải biên quân cờ thành dạng hình khối vẫn chưa được người Trung Quốc chấp nhận, dù đang là thời mở cửa). Sự bảo thủ này khiến Hiệp hội cờ tướng có vỏn vẹn 25 nước tham gia trong cờ vua có tới 170. Còn trên bàn cờ tuy tất cả đã yên ổn và an bài như đã trình bày, nhưng rốt cuộc vẫn còn đó những khiếm khuyết gây ra sự thái quá của một vài quân cờ hay một vài tình huống mà người Trung Hoa đã phải có những bổ cứu, điều chỉnh để lấy lại sự cân bằng. Đó chính là những ngoại lệ mà người chơi cờ phải tự nhớ.
Bạn có biết đó là những ngoại lệ nào không Thứ nhất là đối với quân Mã. Với đất rộng và có vô số trường để tung hoành, Mã sẽ phi nước đại trên khắp bàn cờ. Sự thái quá của Mã như thế sẽ làm cho việc tiêu diệt quân trở nên quá nhanh, công mạnh hơn thủ và nhất là Tướng sẽ bị uy hiếp nặng nề nếu hai Mã đối phương sang được trận địa bên này. Mã trong cờ vua sở dĩ không có luật cản bởi bàn cờ vua chật hẹp, các Tốt (cả thảy có tới 16 quân) móc xích nhau cản trở rất lớn nên việc tung hoành của Mã trong cờ vua so với cờ tướng là rất khó khăn. Còn Mã trong cờ Tướng nếu không có một ngoại lệ để giảm bớt đà thì tất cả sẽ bị cuốn theo tốc độ “phi” của Mã, làm cho các đòn đánh thâm hậu dễ bị “phá sản”, vai trò giữa các quân bị mất cân đối. Và thế là quy ước cản Mã được ra đời. Khi luật cản Mã mới ra đời cũng từng làm không ít kỳ thủ bực mình vì bỗng dưng lại phải nhớ thế nào là “cản chân Mã”, cản bên trái hay bên phải, lắm người bị nhầm lung tung thậm chí có khi Mã mình bị cản nhưng vẫn cử đi bừa. thế là bị đối phương chế diễu chơi “chưa sạch nước cản”, cứ y như trẻ con thò lò mũi mà không biết chùi vậy! Tứ khi có luật cản Mã, cờ trở nên ôn hòa, sâu sắc và mưu mẹo phải cao hơn, nghệ thuật dùng quân để “cản Mã” cũng tinh vi, diệu nghệ hơn, khiến cho Mã dù đã “giao chân”, dù “ngọa tào”, hay tạo được thế “song Mã ẩm tuyền” cũng không dễ gì bắt được tướng đối phương nếu bất ngờ bị một quân khác chèn vào “chân”.
Những đòn Mã nhằm vào tướng như thế nếu ở cờ vua thì vua hết đường cựa nhưng ở cờ tướng thì hoàn toàn có thể lên Sĩ, phanh Tượng, rút Xe hoặc kéo Pháo từ trận địa xa xôi phía bên kia về để cứu nguy cho tướng nhờ phép cản Mã tài tình.
Từ khi có luật cản Mã, một số nhà nghiên cứu ký thuyết cờ Tướng đã đi sâu nghiên cứu hiện tượng này và nhận ra nhiều điều thú vị ví dụ như làm sao chống lại thế “Mã giao chân”, làm sao sử dụng 5 quân Tốt một cách hữu hiệu để chặn bước tiến của Mã. Từ luật cản Mã người ta đào sâu hơn nữa việc đánh giá nếu một bên còn Mã hay còn hai Mã ở tàn cuộc sẽ phải được đối phó như thế nào so với khi tàn cuộc không còn Mã mà chỉ còn Xe và Pháo.
Nếu ở Pháo có một định lý mà không người chơi cờ nào không thuộc “cờ tàn Pháo hoàn” với vai trò hỗ trợ Pháo của Sĩ là vô cùng quan trọng thì đối với Mã ở cờ tàn là phải tích cực ào lên tấn công. Khi đó những nước chống đõ của đối phương phụ thuộc rất nhiều vào vị trí làm thế nào để cản được chân Mã hơn là làm thế nào để tiêu diệt được Mã, bởi bàn cờ lúc đó đã rất trống trải, Mã tha hồ tung hoành.
Cũng là một trong những phương tiện hữu hiệu để giảm bới uy lực của Mã là các Tốt “huynh đệ”. Cặp tốt “huynh đệ” (các Tốt dã qua sông đứng liền nhau) này vừa làm bình phong che chắn cho tướng (tránh để Tướng bị lộ mặt) đồng thời sẵn sàng hy sinh cả hai đế bắt cho được quân Mã nguy hiểm kia. Đó là những ví dụ mà những người chơi cờ tướng thông thạo đều phải nhớ “thuộc lòng” trong làng cờ gọi là “vào cục”. Những người chơi cờ nào nắm lơ mơ những quy tắc này “dễ chết như bỡn”. Chính vì thế có một số cao thủ chơi cặp Mã rất thần tình, khiến lúc nào cũng làm đối phương nơm nớp lo sợ. Đến nỗi có những trường hợp mới mở cờ đối phương liền quăng luôn đôi Pháo kết liễu ngay hai con Mã nguy hiểm kia. Tất nhiên các đổi như thế thì bên mất Pháo vẫn thiệt hại hơn nhiều. Nhưng đây là để nói uy lực của đôi Mã nhiều khi cũng ghê gớm, dù đã có luật “cản Mã” rồi.
Ngoại lệ thứ nhì là đối với Tướng. Vì Tướng được chốt chặt trong cung, có tới hai vệ sĩ và hai Tượng kè kè canh gác cẩn mật. Khi lâm nguy tất cả sẵn sàng “xả thân cứu chúa” đó là chưa kể các quân khác thấy có “nội biến” ở “triều đình” thì đều cấp tốc quay về “hộ giá”. Chính điều này làm cho địch quân dù có liều chết lăn xả vào thì cũng chưa chắc đã ăn thua. Như thế muốn thắng một ván cờ – tức bắt được Tướng – là rất khó khăn, đồng thời với kiểu phòng thủ “đổ bê tông” này thì cơ may hòa cờ là rất lớn. Nếu chơi cờ mà hòa liên miên thì còn ai muốn chơi nữa. Ván nào tướng của cả hai bên cũng “trơ như đá vững như đồng” thì còn thích thú nỗi gì. Tứ một thực tế đáng buồn như thế, luật “lộ mặt Tướng ” lập tức được ban bố: một bên Tướng đã chiếm được một lộ rồi mà Tướng bên kia thò mặt ra lộ ấy là bị thua ngay lập tức, dù hai Tướng ở cách xa nhau muôn trùng. Thật là hay. Giải thích điều này như thế nào đây về “phép mầu” kỳ lạ này? Hay là mỗi tướng được coi như siêu nhân, có phép “chưởng” thẳng vào mặt nhau?
Chính điều này làm cho sự việc trở nên rất khó giải thích bởi ở cả Chaturanga cũng như cờ vua đều không thể có được “quái chiêu” này. Làm sao mà ở khoảng xa như thế mà một ông tướng bỗng lăn quay ra chết chỉ vì muốn “dòm mặt” ông kia cơ chứ! Vả lại trên thực tế chiến trường thì hai ông tướng phải xáp trận trực tiếp với nhau như kiểu -Trương Phi đánh Mã Siêu mới có cơ hội cho ông này hạ sát ông kia chứ. Có người giải thích rằng quy định như thế là để tỏ lòng kính trọng nhau nên hai vị không được phép nhìn mặt nhau. Cách giải thích này quá gượng ép và buồn cười nên không được mấy ai chấp nhận. Ai lại vì một mục đích vớ vẩn như thế mà đặt ra một cái lệ “nghiêm trọng” tới mức ấy! Lại có người bảo rằng vì một bên là tướng bà còn bên kia là tướng ông, mà theo phép xưa “nam nữ thụ thụ bất thân” nên không được thông thống nhìn nhau mà bắt buộc phải có “ai đó” đứng ở giữa. Cách giải thích này cũng chẳng thuyết phục được mấy người mà chỉ làm cho lời giải thích thêm phần hài hước. Tướng ông, tướng bà là trong trò chơi “Tam cúc”, hay trong lễ hội cờ người chứ trên bàn cờ có ai đặt ra đâu là tướng ông đâu là tướng bà hồi nào! Vả lại dù có thực là Tướng ông hay Tướng bà thì đã là địch thủ của nhau, luôn tìm cách hạ sát nhau để thôn tính cả quốc gia thì còn e thẹn cái nỗi gì!
[img]xq385-0.jpg;center;Tướng ông tướng bà không được phép nhìn mặt nhau[/img]
Thực ra đây chỉ là một quy định đơn thuần mang tính kỹ thuật nhằm cứu vãn cho sự ỳ ạch của cờ tướng với ý đồ ban đầu là nhằm giữ sao cho tướng “an toàn tuyệt đối”. Nó cũng giản dị như trong bóng đá phải sinh ra quả phạt penalty hoặc cho bên thắng 3 điểm để bóng đá thiên về tấn công hơn, cứu vãn cho lối chơi “đổ bê tông” đã lỗi thời. Việc tướng chiếm lộ thông chính là việc phong luôn cho tướng vai trò kép “Xe và Tướng”. Xe là quân cực mạnh như thế chiến thắng sẽ tới dễ dàng hơn. Nhưng vì phương Đông khác phương Tây, bên Tây thì người ta cứ nói huỵch toẹt ra rằng đó là quy ước kỹ thuật, còn phương Đông thì cứ thích lý giải một cách vừa “vòng vo Tam quốc” vừa “yểu điệu véo von”!
Một hệ quả khác sẽ lập tức sẽ nảy sinh theo: Tướng bên này mặc nhiên chiếm luôn dược một phần ba diện tích cửu cung của đối phương, khiến “đất nương thân” của Tướng đối phương đột ngột bị thu hẹp đáng kể. Đó là chưa nói tới nếu tướng chiếm được lộ giữa thì ôi thôi, tướng của đối phương mất tới hai phần ba cung cấm của mình, nghĩa là chỉ còn vỏn vẹn có 3 điểm để di chuyển. Lúc đó một bên chỉ cần dùng một quân cũng có thể tóm gọn được Tướng của đối thủ dù rằng Tướng của đối thủ đang ở ngay trong cung cấm của mình. Trong cờ tướng khi tướng hết đường chạy là thua chứ không phải như trong cờ vua, khi vua hết đường chạy thì được hoà. Vì vậy tỷ số thắng thua ở cờ Tướng sau khi có ngoại lệ này đã tăng vọt, chấm dứt tình trạng hoà cờ trì trệ trước đây.
Những điều chỉnh hợp lý như thế (theo thuyết “điều hòa âm dương” phương đông) đã mang lại sức sống rõ rệt cho cờ tướng. Sự bất biến và ổn định của cờ tướng trong gần một nghìn năm qua là một minh chứng hiển nhiên.
Sau khi được định hình, vị trí cờ Tướng lớn mạnh tới mức ít ai ngờ tới. Bởi trước đó tới hơn 3000 năm Trung Quốc đã có cờ Vây, ngoài cờ Vây ra còn có biết bao thứ cờ dân gian được chơi ở từng vùng, mỗi loại đều có những điểm đặc sắc. Tuy nhiên khi cờ Tướng xuất hiện thì những loại cờ khác dần dần lu mờ, kể cả cờ Vây. Nên nhớ rằng đất nước Trung Hoa luôn luôn bị chia năm xẻ bảy, nào là Sở, Tề, Yên, Triệu, Việt, Ngô… việc tranh giành đất đai, thôn tính quyền lực, thâu tóm lẫn nhau liên miên không lúc nào dứt. Cờ tướng là hình ảnh thu nhỏ tiêu biểu cho chiến cuộc. Việc chém tướng, đuổi quân, bắn pháo, chặn xe là quá quen thuộc với hàng trăm triệu người Trung Hoa. Bàn cờ chính là diễn biến cuộc đời ở ngay trước mắt họ. Càng chơi người ta càng khám phá ra những bí mật hầu như vô cùng tận của cơ Tướng. Cả nghìn cả vạn ván không ván nào giống ván nào, chơi mãi vẫn không bao giờ chán, cờ là nguồn cảm hửng vô tận của hàng triệu con người.
Nhưng có một điều khiến cho cờ Tướng ở châu Á nổi bật so với cờ vua và cờ Vây là người ta đã biến nó từ một môn đấu trí trở thành một thú chơi nghệ thuật, thậm chí còn cao hơn thế, gọi là “kỳ đạo”. Đặc điểm rất phương Đông này không chỉ có ở cờ tướng. Ví dụ ở phương Tây thì chữ chỉ là chữ, nhưng với phương Đông thì đã thành Thư pháp, những bức “tranh chữ” tuyệt mỹ có nội dung và ý nghĩa đa dạng được trân trọng treo trong các toà đại sảnh, các thư phòng… nhiều khi còn hơn cả một bức danh họa. Cờ tướng đi vào văn thơ, vào âm nhạc, vào hội hoạ một cách tự nhiên. Như vậy, từ thế hệ này sang thế hệ khác, cờ tướng đã được trau chuốt thành một viên ngọc minh châu nghệ thuật độc đáo, gắn kết tài tình với những nghệ thuật bậc nhất thiên hạ, tạo nên bộ tứ “cầm kỳ thi hoạ”. Cờ Tướng là như thế đấy!