Hai ông bạn đang chơi cờ tướng, bỗng cậu con chạy vào:
– Bố ơi, mất xe rồi!
– Sợ gì, mất xe thì tao đi pháo! Nói rồi tiếp tục gõ quân cờ đánh “Cốp”…
Con: !?!
Trăng Cờ – trang chuyên về cờ
Hai ông bạn đang chơi cờ tướng, bỗng cậu con chạy vào:
– Bố ơi, mất xe rồi!
– Sợ gì, mất xe thì tao đi pháo! Nói rồi tiếp tục gõ quân cờ đánh “Cốp”…
Con: !?!
Chơi cờ là cuộc chiến đấu giữa hai đạo quân. Cuộc chiến này luôn diễn ra bên này hoặc bên kia tiêu diệt quân đối phương, hoặc cả hai bên cùng tiêu diệt quân lẫn nhau. Người ta nói, đó là hai bên trao đổi quân với nhau.
Nhưng chúng ta đã học, mỗi quân cờ có lối đi khác nhau thể hiện sức mạnh khác nhau, tức giá trị của chúng không đồng nhất. Vậy căn cứ vào đâu để trao đổi quân? Những người chơi cờ trước kia bảo rằng: “Xe 10, Pháo 7, Mã 3” như thế có đúng không?
Trước hết phải nói là câu đánh giá sức mạnh của Xe, Pháo, Mã như thế là không công bằng, không chính xác nhưng cũng không hoàn toàn sai. Không hoàn toàn sai vì đánh giá cao quân Xe là đúng, cho Xe giá trị 10 cũng đúng và sức mạnh của Xe bằng sức mạnh của Pháo và Mã hợp lại cũng đúng nốt. Nhưng đánh giá quân Pháo quá cao, cho rằng hai quân Pháo cộng lại hơn một Xe là không chính xác. Đánh giá quá thấp Mã, cho rằng hai Mã cộng lại không bằng một Pháo là không công bằng và hoàn toàn không chính xác.
Những nhà nghiên cứu, lý luận về cờ đã thống nhất đánh giá lại các quân theo bảng giá trị sau.
Nếu lấy một con Tốt chưa qua hà làm chuẩn để xác định giá trị thì nó chỉ bằng 1. Vì khi chưa qua hà Tốt là quân kém năng lực nhất, nó chỉ kiểm soát có mỗi một điểm trước mặt. Thế nhưng khi nó đã qua hà thì trở nên linh hoạt hơn. Nó có thể rẽ nhánh qua phải, hoặc qua trái và có thể uy hiếp bất cứ quân nào của đối phương vì nó có giá trị quá thấp, sẵn sàng “đổi mạng” với quân đối phương. Bây giờ không thể chỉ coi nó có giá trị 1 nếu đối phương cũng đồng tình bỏ ra một Sĩ hoặc một Tượng để đổi lấy Tốt. Như vậy giá trị của Tốt đã qua hà phải là 2.
Từ lấy Tốt làm chuẩn, người ta đã so sánh giá trị của các quân cờ như sau:
| Tốt (chưa qua hà) | 1 |
| Tốt (đã qua hà) | 2 |
| Sĩ | 2 |
| Tượng | 2.5 |
| Mã | 4,5 |
| Pháo | 5 |
| Xe | 10 |
Với bảng giá trị đó, người ta liệt Xe, Pháo và Mã vào loại những “quân mạnh”. Các quân Sĩ, Tượng, Tốt vào những “quân yếu”. Trong bản này không nói giá trị của Tướng vì nó không phải là một quân chiến đấu, dù đôi khi nó cũng giúp các quân của phe nó giành chiến thắng, nhưng không thể đánh đổi nó với bất cứ giá nào nên không cần thiết đề ra giá trị của nó. Hễ mất Tướng thì thua cờ, đó là qui ước cơ bản khi bày ra trò chơi này.
Trở lại bảng giá trị, ta so sánh để thấy giá trị một Xe tương đương một Mã và một Pháo, hoặc hai Pháo hay hai Mã cộng một Tốt. Còn giá trị một Mã ngang với một Pháo hay có kém tí ti, còn hai Mã thêm một Tốt chưa qua hà bằng hai Pháo. Xe Pháo Mã là bộ ba ngang với Xe hai Mã hoặc Xe hai Pháo. Nếu so sánh với Sĩ, Tượng thì thấy một Mã hoặc một Pháo tương đương với hai Sĩ hoặc hai Tượng. Nếu so sánh với Tốt thì một Mã bằng hai Tốt qua hà và một Tốt qua hà bằng một Tượng hoặc một Sĩ.
Chính định giá trị các quân như thế mà các đối thủ căn cứ vào đó để trao đổi quân, tính toán trao đổi thế nào là ngang bằng, trao đổi thế nào là lời chất hay lỗ chất…
Thế nhưng đây chỉ là giá trị của các quân mang tính chất tuyệt đối, nghĩa là chỉ căn cứ vào sức mạnh so sánh giữa chúng trên một bàn cờ trống trơn, không đặt trong một thế cờ phức tạp nào. Người ta cũng gọi đây là giá trị vốn có của từng quân cờ. Còn trong khi giao đấu, ở từng giai đoạn cụ thể, với những vị trí đứng khác nhau, giá trị của từng quân cờ thay đổi. Nó có thể tăng cao hơn, nếu nó đứng ở vị trí tốt, hoặc cũng có thể giảm đi nếu đứng ở vị trí xấu. Người ta gọi giá trị này là giá trị biến động của các quân. Do đó người chơi cờ cao không phải chỉ căn cứ vào giá trị vốn có mà còn phải căn cứ vào giá trị biến động của các quân để quyết định nên đổi quân hay không.
Như vậy tất cả phải chăng cờ tướng đã hoàn hảo, không còn chỗ nào khiếm khuyết? Như đã nói trên, đối với những người nước ngoài thì một nhược điểm lớn của cờ tướng đã lộ rõ: hình dạng quân cờ khiến họ rất khó tiếp thu (hay chính người Trung Hoa đã từng không muốn cho ngoại bang chơi loại cờ của mình? chúng ta không còn lạ chính sách “bế quan tỏa cảng” hàng trăm năm của các triều đại Trung Quốc, cho mãi tới tận bây giờ những đề nghị cải biên quân cờ thành dạng hình khối vẫn chưa được người Trung Quốc chấp nhận, dù đang là thời mở cửa). Sự bảo thủ này khiến Hiệp hội cờ tướng có vỏn vẹn 25 nước tham gia trong cờ vua có tới 170. Còn trên bàn cờ tuy tất cả đã yên ổn và an bài như đã trình bày, nhưng rốt cuộc vẫn còn đó những khiếm khuyết gây ra sự thái quá của một vài quân cờ hay một vài tình huống mà người Trung Hoa đã phải có những bổ cứu, điều chỉnh để lấy lại sự cân bằng. Đó chính là những ngoại lệ mà người chơi cờ phải tự nhớ.
Bạn có biết đó là những ngoại lệ nào không Thứ nhất là đối với quân Mã. Với đất rộng và có vô số trường để tung hoành, Mã sẽ phi nước đại trên khắp bàn cờ. Sự thái quá của Mã như thế sẽ làm cho việc tiêu diệt quân trở nên quá nhanh, công mạnh hơn thủ và nhất là Tướng sẽ bị uy hiếp nặng nề nếu hai Mã đối phương sang được trận địa bên này. Mã trong cờ vua sở dĩ không có luật cản bởi bàn cờ vua chật hẹp, các Tốt (cả thảy có tới 16 quân) móc xích nhau cản trở rất lớn nên việc tung hoành của Mã trong cờ vua so với cờ tướng là rất khó khăn. Còn Mã trong cờ Tướng nếu không có một ngoại lệ để giảm bớt đà thì tất cả sẽ bị cuốn theo tốc độ “phi” của Mã, làm cho các đòn đánh thâm hậu dễ bị “phá sản”, vai trò giữa các quân bị mất cân đối. Và thế là quy ước cản Mã được ra đời. Khi luật cản Mã mới ra đời cũng từng làm không ít kỳ thủ bực mình vì bỗng dưng lại phải nhớ thế nào là “cản chân Mã”, cản bên trái hay bên phải, lắm người bị nhầm lung tung thậm chí có khi Mã mình bị cản nhưng vẫn cử đi bừa. thế là bị đối phương chế diễu chơi “chưa sạch nước cản”, cứ y như trẻ con thò lò mũi mà không biết chùi vậy! Tứ khi có luật cản Mã, cờ trở nên ôn hòa, sâu sắc và mưu mẹo phải cao hơn, nghệ thuật dùng quân để “cản Mã” cũng tinh vi, diệu nghệ hơn, khiến cho Mã dù đã “giao chân”, dù “ngọa tào”, hay tạo được thế “song Mã ẩm tuyền” cũng không dễ gì bắt được tướng đối phương nếu bất ngờ bị một quân khác chèn vào “chân”.
Những đòn Mã nhằm vào tướng như thế nếu ở cờ vua thì vua hết đường cựa nhưng ở cờ tướng thì hoàn toàn có thể lên Sĩ, phanh Tượng, rút Xe hoặc kéo Pháo từ trận địa xa xôi phía bên kia về để cứu nguy cho tướng nhờ phép cản Mã tài tình.
Từ khi có luật cản Mã, một số nhà nghiên cứu ký thuyết cờ Tướng đã đi sâu nghiên cứu hiện tượng này và nhận ra nhiều điều thú vị ví dụ như làm sao chống lại thế “Mã giao chân”, làm sao sử dụng 5 quân Tốt một cách hữu hiệu để chặn bước tiến của Mã. Từ luật cản Mã người ta đào sâu hơn nữa việc đánh giá nếu một bên còn Mã hay còn hai Mã ở tàn cuộc sẽ phải được đối phó như thế nào so với khi tàn cuộc không còn Mã mà chỉ còn Xe và Pháo.
Nếu ở Pháo có một định lý mà không người chơi cờ nào không thuộc “cờ tàn Pháo hoàn” với vai trò hỗ trợ Pháo của Sĩ là vô cùng quan trọng thì đối với Mã ở cờ tàn là phải tích cực ào lên tấn công. Khi đó những nước chống đõ của đối phương phụ thuộc rất nhiều vào vị trí làm thế nào để cản được chân Mã hơn là làm thế nào để tiêu diệt được Mã, bởi bàn cờ lúc đó đã rất trống trải, Mã tha hồ tung hoành.
Cũng là một trong những phương tiện hữu hiệu để giảm bới uy lực của Mã là các Tốt “huynh đệ”. Cặp tốt “huynh đệ” (các Tốt dã qua sông đứng liền nhau) này vừa làm bình phong che chắn cho tướng (tránh để Tướng bị lộ mặt) đồng thời sẵn sàng hy sinh cả hai đế bắt cho được quân Mã nguy hiểm kia. Đó là những ví dụ mà những người chơi cờ tướng thông thạo đều phải nhớ “thuộc lòng” trong làng cờ gọi là “vào cục”. Những người chơi cờ nào nắm lơ mơ những quy tắc này “dễ chết như bỡn”. Chính vì thế có một số cao thủ chơi cặp Mã rất thần tình, khiến lúc nào cũng làm đối phương nơm nớp lo sợ. Đến nỗi có những trường hợp mới mở cờ đối phương liền quăng luôn đôi Pháo kết liễu ngay hai con Mã nguy hiểm kia. Tất nhiên các đổi như thế thì bên mất Pháo vẫn thiệt hại hơn nhiều. Nhưng đây là để nói uy lực của đôi Mã nhiều khi cũng ghê gớm, dù đã có luật “cản Mã” rồi.
Ngoại lệ thứ nhì là đối với Tướng. Vì Tướng được chốt chặt trong cung, có tới hai vệ sĩ và hai Tượng kè kè canh gác cẩn mật. Khi lâm nguy tất cả sẵn sàng “xả thân cứu chúa” đó là chưa kể các quân khác thấy có “nội biến” ở “triều đình” thì đều cấp tốc quay về “hộ giá”. Chính điều này làm cho địch quân dù có liều chết lăn xả vào thì cũng chưa chắc đã ăn thua. Như thế muốn thắng một ván cờ – tức bắt được Tướng – là rất khó khăn, đồng thời với kiểu phòng thủ “đổ bê tông” này thì cơ may hòa cờ là rất lớn. Nếu chơi cờ mà hòa liên miên thì còn ai muốn chơi nữa. Ván nào tướng của cả hai bên cũng “trơ như đá vững như đồng” thì còn thích thú nỗi gì. Tứ một thực tế đáng buồn như thế, luật “lộ mặt Tướng ” lập tức được ban bố: một bên Tướng đã chiếm được một lộ rồi mà Tướng bên kia thò mặt ra lộ ấy là bị thua ngay lập tức, dù hai Tướng ở cách xa nhau muôn trùng. Thật là hay. Giải thích điều này như thế nào đây về “phép mầu” kỳ lạ này? Hay là mỗi tướng được coi như siêu nhân, có phép “chưởng” thẳng vào mặt nhau?
Chính điều này làm cho sự việc trở nên rất khó giải thích bởi ở cả Chaturanga cũng như cờ vua đều không thể có được “quái chiêu” này. Làm sao mà ở khoảng xa như thế mà một ông tướng bỗng lăn quay ra chết chỉ vì muốn “dòm mặt” ông kia cơ chứ! Vả lại trên thực tế chiến trường thì hai ông tướng phải xáp trận trực tiếp với nhau như kiểu -Trương Phi đánh Mã Siêu mới có cơ hội cho ông này hạ sát ông kia chứ. Có người giải thích rằng quy định như thế là để tỏ lòng kính trọng nhau nên hai vị không được phép nhìn mặt nhau. Cách giải thích này quá gượng ép và buồn cười nên không được mấy ai chấp nhận. Ai lại vì một mục đích vớ vẩn như thế mà đặt ra một cái lệ “nghiêm trọng” tới mức ấy! Lại có người bảo rằng vì một bên là tướng bà còn bên kia là tướng ông, mà theo phép xưa “nam nữ thụ thụ bất thân” nên không được thông thống nhìn nhau mà bắt buộc phải có “ai đó” đứng ở giữa. Cách giải thích này cũng chẳng thuyết phục được mấy người mà chỉ làm cho lời giải thích thêm phần hài hước. Tướng ông, tướng bà là trong trò chơi “Tam cúc”, hay trong lễ hội cờ người chứ trên bàn cờ có ai đặt ra đâu là tướng ông đâu là tướng bà hồi nào! Vả lại dù có thực là Tướng ông hay Tướng bà thì đã là địch thủ của nhau, luôn tìm cách hạ sát nhau để thôn tính cả quốc gia thì còn e thẹn cái nỗi gì!
[img]xq385-0.jpg;center;Tướng ông tướng bà không được phép nhìn mặt nhau[/img]
Thực ra đây chỉ là một quy định đơn thuần mang tính kỹ thuật nhằm cứu vãn cho sự ỳ ạch của cờ tướng với ý đồ ban đầu là nhằm giữ sao cho tướng “an toàn tuyệt đối”. Nó cũng giản dị như trong bóng đá phải sinh ra quả phạt penalty hoặc cho bên thắng 3 điểm để bóng đá thiên về tấn công hơn, cứu vãn cho lối chơi “đổ bê tông” đã lỗi thời. Việc tướng chiếm lộ thông chính là việc phong luôn cho tướng vai trò kép “Xe và Tướng”. Xe là quân cực mạnh như thế chiến thắng sẽ tới dễ dàng hơn. Nhưng vì phương Đông khác phương Tây, bên Tây thì người ta cứ nói huỵch toẹt ra rằng đó là quy ước kỹ thuật, còn phương Đông thì cứ thích lý giải một cách vừa “vòng vo Tam quốc” vừa “yểu điệu véo von”!
Một hệ quả khác sẽ lập tức sẽ nảy sinh theo: Tướng bên này mặc nhiên chiếm luôn dược một phần ba diện tích cửu cung của đối phương, khiến “đất nương thân” của Tướng đối phương đột ngột bị thu hẹp đáng kể. Đó là chưa nói tới nếu tướng chiếm được lộ giữa thì ôi thôi, tướng của đối phương mất tới hai phần ba cung cấm của mình, nghĩa là chỉ còn vỏn vẹn có 3 điểm để di chuyển. Lúc đó một bên chỉ cần dùng một quân cũng có thể tóm gọn được Tướng của đối thủ dù rằng Tướng của đối thủ đang ở ngay trong cung cấm của mình. Trong cờ tướng khi tướng hết đường chạy là thua chứ không phải như trong cờ vua, khi vua hết đường chạy thì được hoà. Vì vậy tỷ số thắng thua ở cờ Tướng sau khi có ngoại lệ này đã tăng vọt, chấm dứt tình trạng hoà cờ trì trệ trước đây.
Những điều chỉnh hợp lý như thế (theo thuyết “điều hòa âm dương” phương đông) đã mang lại sức sống rõ rệt cho cờ tướng. Sự bất biến và ổn định của cờ tướng trong gần một nghìn năm qua là một minh chứng hiển nhiên.
Sau khi được định hình, vị trí cờ Tướng lớn mạnh tới mức ít ai ngờ tới. Bởi trước đó tới hơn 3000 năm Trung Quốc đã có cờ Vây, ngoài cờ Vây ra còn có biết bao thứ cờ dân gian được chơi ở từng vùng, mỗi loại đều có những điểm đặc sắc. Tuy nhiên khi cờ Tướng xuất hiện thì những loại cờ khác dần dần lu mờ, kể cả cờ Vây. Nên nhớ rằng đất nước Trung Hoa luôn luôn bị chia năm xẻ bảy, nào là Sở, Tề, Yên, Triệu, Việt, Ngô… việc tranh giành đất đai, thôn tính quyền lực, thâu tóm lẫn nhau liên miên không lúc nào dứt. Cờ tướng là hình ảnh thu nhỏ tiêu biểu cho chiến cuộc. Việc chém tướng, đuổi quân, bắn pháo, chặn xe là quá quen thuộc với hàng trăm triệu người Trung Hoa. Bàn cờ chính là diễn biến cuộc đời ở ngay trước mắt họ. Càng chơi người ta càng khám phá ra những bí mật hầu như vô cùng tận của cơ Tướng. Cả nghìn cả vạn ván không ván nào giống ván nào, chơi mãi vẫn không bao giờ chán, cờ là nguồn cảm hửng vô tận của hàng triệu con người.
Nhưng có một điều khiến cho cờ Tướng ở châu Á nổi bật so với cờ vua và cờ Vây là người ta đã biến nó từ một môn đấu trí trở thành một thú chơi nghệ thuật, thậm chí còn cao hơn thế, gọi là “kỳ đạo”. Đặc điểm rất phương Đông này không chỉ có ở cờ tướng. Ví dụ ở phương Tây thì chữ chỉ là chữ, nhưng với phương Đông thì đã thành Thư pháp, những bức “tranh chữ” tuyệt mỹ có nội dung và ý nghĩa đa dạng được trân trọng treo trong các toà đại sảnh, các thư phòng… nhiều khi còn hơn cả một bức danh họa. Cờ tướng đi vào văn thơ, vào âm nhạc, vào hội hoạ một cách tự nhiên. Như vậy, từ thế hệ này sang thế hệ khác, cờ tướng đã được trau chuốt thành một viên ngọc minh châu nghệ thuật độc đáo, gắn kết tài tình với những nghệ thuật bậc nhất thiên hạ, tạo nên bộ tứ “cầm kỳ thi hoạ”. Cờ Tướng là như thế đấy!
Ván thi đấu giao hữu giữa Đặng Hùng Việt và Đặc cấp quốc tế Đại sư Lý Lai Quần tại Hà Nội trong chuyến du đấu của các cao thủ Trung Quốc đến Hà Nội năm 2003 là một minh chứng cho điều đó.
Ván cờ như dưới đây:
[game boxcomment=0 header=0]
FORMAT WXF
GAME
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
START{
1. P2-5 M8.7 2. M2.3 X9.1
3. X1-2 P8/1
/*Đây là những nước đầu tiên của Pháo đầu đối Quy bối Pháo. Trắng có thể chọn 5 cách đi tiếp: B7.l, B5.l, P8.2, M8.9, M8.7.
Mỗi cách đi lại có rất nhiều thế biến.
*Các nhà nghiên cứu Trình Minh Tùng, Đồ Cảnh Minh, Cát Duy Bồ giới thiệu: M8.9 T3.5, X2.4 B1.1, P8-6 P8-2, X2-6 B7.1 (S6.5, B3.1 X1.3, M3.4 B3.l, X9.l X9-8, X9-3 Trắng tiên), M9/7 Trắng dễ đi.
*Các nhà nghiên cứu Trần Hiếu Khôn, Hà Liên Sinh thì cho rằng: M8.9 T3.5 (P8-1, P8-7 T3.5, X9-8 M2.4, X8.4 B1.1 bình ổn), X2.4 B1.1, X2-6 B7.1, P8-6 P8~ X9-8 X1.2. X6-4 bình ổn.*/
4. X2.4 T3.5
5. M8.9 B1.1 6. X2-6 B7.1
7. P8-6 P8-2 8. X9.1 B3.1
9. B5.1 X1.3
DIAG{ #10 RED POPUP }
/*Đây là cách đi như các ông Trình Minh Tùng, Cát Duy Bồ, Đồ Cảnh Minh phân tích ở trên, Đen bị kém thế. Theo chúng tôi, ở nước này Đen nên đi P8-4 như Trần Hiếu Khôn, Hà Liên Sinh đã giới thiệu, bình ổn cuộc chơi.
Tiến Xe là phòng thủ bị động, thiếu tích cực. Nếu nhận ra Tượng đáy bên Trắng đang yếu và cần khai thông cho Xe ra biên thì nên đi: B3.l, B7.l B1.1, B9.l X1.5. Bây giờ Đen cỏ 2 nước Pt.3 hoặc Pt-3 bắt Tượng, cơ hội phản đòn rất lớn. Dưới đây là một ví dụ phát triển thế biến này: B3.1 , B7.1 B1.1, B9.l X1.5, X6.3 X1/3, B5.l Pt-3 Đen có thế công mạnh mẽ.*/
10. X9-4 S4.5
11. B5.1 B5.1 12. B3.1 B7.1?
/*Không nên đi theo dẫn dắt của đối phương. Nếu suy nghĩ “tích cực” thì cần đi: B5.1, X6-5 X1-4, S4.5 B7.1, X5-3 X9-6, X4.7 Ps-6, X3-8 P6.1 cân bằng.*/
13. M3.5 X9-6 14. X4.7 Ps-6
15. M5.3 P6-7
/*Bắt Mã vô ích, lại bị mất Tốt đầu là yếu trung lộ. Một quân Pháo dù có ăn được Tượng, chưa có quân phối hợp cũng không có tác dụng. Cần đi như sau: P6.5, M3.5 P6-5, S6.5 X1-5, Tg5-6 P2.2, M5/3 P5-1 công thủ đều chắc chắn.*/
16. M3.5 P7.8
17. S4.5 M7.5 18. X6-5 P7/7
19. M9/7 M2.1 20. M7.6 P2-3
21. T7.9 M5.7 22. X5-6 M7/5
23. X6-4 M5.7 24. X4-6 M7/5
25. B7.1 B3.1 26. X6-7 X1-2
27. P5.1 M1.2 28. P6-3 M2/4
29. P3.7 T5/7 30. P5.3 T7.5
31. P5-8 M4.3 32. M5/7 }END[/game]
Trắng thắng.
Bạn thấy đấy, để chiếm phần thắng, phải phát triển lối chơi tiến công!