[b]Ván 5: TỨ PHƯƠNG TRẬN[/b]
Trắng đi trước thắng.
[game solutionday=7]
FORMAT WXF
GAME TỨ PHƯƠNG TRẬN
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
FEN 9/9/1HPakaRP1/1C5P1/1P5H1/1c5h1/1p5p1/1p5r1/1rhKAppc1/9 w – – – 1
START{
DIAG{ #1 RED }
1. B7-6 Tg5/1 2. X3.1 Tg5/1
3. X3.1 Tg5.1 4. B6.1 Tg5-6
5. P8-4 S6/5 6. B6-5 Tg6-5
7. M8.7 Tg5-6 8. M7/6 Tg6-5
9. X3-5 Tg5-4 10. P4-6 Tg4.1
11. M2.4 Tg4/1 12. X5/1
/*Cũng có thể chơi X5-6 phế quân đẹp hơn*/
12. … Tg4/1
13. M4.6 }END[/game]
Related Posts
Cờ cười năm mèo 1
- Amin
- 26/02/2011
- 0
[img]xq583-0.jpg;center;[/img]
[img]xq583-1.jpg;center;Chú thích trong hình: Ờ mày biết không, tao chỉ làm vài ván với mày trước khi tao thịt mày thôi[/img]
[img]xq583-2.jpg;center;[/img]
Các kỷ lục cờ Tướng của Việt Nam
- Phạm Hồng Nguyên
- 05/01/2006
- 0
[b]I. Cờ Tướng được chơi ở Việt Nam từ bao giờ?[/b]
Có một số lý thuyết khác nhau về nguồn gốc phát sinh cờ Tướng. Lý thuyết được nhiều người công nhận là vào khoảng thế kỷ thứ 6 cờ Tướng được người Trung Hoa kế thừa và cải tiến từ một loại cờ có tên là Chaturanga (có nguồn gốc từ Trung Á) và phải đến thế kỷ 10 sau khi bớt Tốt và thêm quân Pháo thì cờ Tướng được ổn định như ta vẫn biết ngày nay. Không có nghiên cứu hay tài liệu nào cho biết khi nào cờ Tướng bắt đầu được chơi ở Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu phỏng đoán ngay sau khi cờ Tướng được phổ biến ở Trung Quốc thì nó cũng bắt đầu được biết và được chơi ở Việt Nam, có lẽ con đường phổ biến là nhờ các sứ thần của cả hai nước học hỏi lẫn nhau để giải trí và đọ tài qua những lần đi sứ rồi phổ biến trong dân gian.
Có một số đền chùa liên quan đến cờ Tướng là các nơi thờ thần Đế Thích, tương truyền là một ông Thần cai quản trời đất và cũng rất giỏi đánh cờ. Ở Hà Nội có [topic id=239]chùa Vua[/topic], được dựng vào thời Lê (thế kỷ 15) thờ thần Đế Thích. Có câu truyện dân gian nổi tiếng về thần Đế Thích và một người giỏi cờ là [topic id=75]”Hồn Trương Ba, da hàng thịt”[/topic] (câu truyện này đã được chép trong sách “Công dư tiệp ký” từ thời Lê Ý Tông).
[img]xq284-0.jpg;center;Đấu cờ bỏi trong lễ hội cờ Chùa Vua[/img]
Muộn hơn có truyền thuyết dân gian kể rằng [topic id=122]Vũ Huyên[/topic], một Tiến sĩ khoa năm Nhâm Thìn (1712) đã từng giúp vua Lê chơi và thắng cờ sứ Thanh nhờ dùng một cái lọng có xoi một cái lỗ nhỏ cho ánh nắng xuyên qua, chiếu lên nước cờ hay để mách nước cho vua, nhờ thế vua Lê thắng liền ba ván, giữ được quốc thể. Ông được vua ban danh hiệu “Đấu kỳ Trạng nguyên” (Trạng cờ).
Như vậy ở Việt Nam cờ Tướng đã được chơi ít nhất là 500 năm (từ thời xây chùa Vua) và nhiều nhất cỡ 1000 năm (ngay khi cờ Tướng được định hình xong ở Trung Quốc).
[b]II. Có bao nhiêu người Việt Nam chơi cờ Tướng?[/b]
Hiện nay chưa có một nghiên cứu hay số liệu chính thức về số người chơi cờ Tướng ở Việt Nam mặc dù cờ Tướng được chơi rất phổ biến trong dân gian và nhà nước cũng đã tổ chức được nhiều giải cờ cấp quốc gia. Theo kinh nghiệm của chúng tôi và tham khảo các chuyên gia khác trong ngành thì rõ ràng cờ Tướng có số người chơi đông nhất trong các loại cờ được chơi ở Việt Nam. Trong khi cờ Vua chỉ được phổ biến trong tầng lớp sinh viên học sinh, cờ Vây mới được du nhập, [topic id=240]các loại cờ dân gian khác như cờ Gánh, cờ Hùm[/topic],… chỉ rất ít người biết đến thì cờ Tướng lại được biết rất rộng rãi, được chơi trong mọi tầng lớp từ già đến trẻ, mọi miền của đất nước. Tỷ lệ người chơi cờ Tướng rất cao, vượt xa tất cả các nước (không kể Trung Quốc) lý giải tại sao cờ Tướng Việt Nam thường chiếm ngôi vị thứ hai sau Trung Quốc.
Người Trung Quốc cho rằng ít nhất họ phải có 100 triệu người chơi cờ Tướng, tức là ít ra cứ 10 người thì có một biết chơi. Con số này đã biến cờ Tướng thành thứ cờ có nhiều người chơi nhất thế giới, vượt xa cờ Vua (số liệu thường cho là có khoảng 50-80 triệu người chơi trên toàn thế giới).
Một Đặc cấp đại sư (danh hiệu trong cờ Tướng, tương đương với Đại kiện tướng trong cờ Vua) người Trung Quốc năm 2003 khi sang đấu cờ giao hữu với các kỳ thủ Việt Nam đã rất ngạc nghiên khi thấy ở Việt Nam cờ Tướng cũng rất phổ biến. Ông cho rằng mức độ phổ biến không khác gì ở Trung Quốc nên tỷ lệ người chơi cũng phải tương tự. Từ dân số Việt Nam là 80 triệu người ông cho rằng phải có ít nhất 8 triệu người Việt Nam biết chơi cờ (tỷ lệ 1/10).
Con số này quá lớn so với hình dung của nhiều người. Một số sách báo trước đây khá lâu đã từng ước lượng Việt Nam có khoảng 500 nghìn đến 1 triệu người chơi cờ Tướng. Tức là nếu so với dân số hiện nay thì phải từ 80 đến 160 người mới có một người biết chơi cờ. Có thể thấy các ước lượng này là hơi chặt, nếu các bạn từng thử tính tỷ lệ số người biết chơi cờ Tướng trong gia đình, nhóm bạn bè, lớp học mình phải có tỷ lệ cao hơn nhiều.
Tất nhiên, để có con số chính xác chúng ta cũng cần các định nghĩa thế nào là người chơi cờ Tướng (ví dụ người trong đời đã có lần thử học chơi, biết luật và đã chơi tổng cộng một hai ván cờ có được tính là người chơi không?) và cần các nghiên cứu bài bản, rộng lớn.
Dung hòa giữa các con số, theo chúng tôi 1-2 triệu người chơi cờ Tướng ở Việt Nam (tỷ lệ cứ 20-80 người thì có 1 người biết chơi cờ Tướng) có thể tạm chấp nhận như ước lượng tạm thời con số tối thiểu, định hướng cho các nghiên cứu kỹ hơn sau này.
[b]III. Các giải cờ Tướng lớn và các nhà vô địch[/b]
Có thể chia các giải cờ Tướng lớn thành ba giai đoạn.
[b]1. Thời Pháp thuộc[/b]
Thời đó việc đi lại và thông thương giữa các tỉnh gần nhau còn rất khó khăn và giữa các miền còn gian nan hơn nữa. Do đó những người chơi cờ và các mạnh thường quân thường chỉ tổ chức được các giải đấu cấp câu lạc bộ hoặc tỉnh, cố gắng lắm mới tổ chức được cấp miền ở Bắc kỳ và ở Nam kỳ.
[b]Bắc kỳ:[/b]
Giải vô địch bắc kỳ đầu tiên được tổ chức vào tháng 3 năm 1936 (ở Hà Nội) và liên tiếp hàng năm từ 1938 đến 1943. [topic id=213]Nhà vô địch cờ Tướng Bắc kỳ đầu tiên[/topic] là ông Nguyễn Văn Tâm (một nhà giáo ở Nam Định).
[b]Nam kỳ:[/b]
Năm 1933 Sài Gòn lần đầu tiên có một giải cờ gọi là Vô địch Nam kỳ (do công ty Mỹ An tổ chức), vô địch giải này là [topic id=254]Nguyễn Thành Hội[/topic] (người An Giang).
[b]2. Thời chiến tranh Việt Nam[/b]
[b]Miền Bắc:[/b]
[img maxheight=150 maxwidth=150]xq59-0.jpg;right;Mai Thanh Minh – Nhà vô địch nam đầu tiên[/img]Miền Bắc tổ chức được giải cờ ba lần:
*Lần 1 năm 1965 ông Nguyễn Thi Hùng (người Hà Nội) vô địch
*Lần 2 năm 1968 ông [topic id=108]Nguyễn Tấn Thọ[/topic] (người Hà Nội) vô địch
*Lần 3 năm 1969 ông Phạm Đình Tuyển (người Quảng Ninh) vô địch
Nếu chỉ tính các giải do chính phủ Việt Nam tổ chức thì ông Tuyển được coi là nhà vô địch lâu năm nhất: 23 năm (từ năm 1969 cho đến năm 1992 khi giải cờ toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức).
[b]Miền Nam:[/b]
[img maxheight=150 maxwidth=150]xq284-1.jpg;right;Lê Thị Hương – Nhà vô địch nữ đầu tiên[/img]Do chiến sự bùng nổ ác liệt nên các kỳ thủ không có cơ hội tập hợp để tổ chức được các giải lớn. Chỉ có các giải cờ cỡ tỉnh hoặc thành phố.
[b]3. Thời Việt Nam thống nhất[/b]
[topic id=234]Năm 1992 là lần đầu tiên giải cờ quốc gia[/topic] (giải A1 tuyển chọn các nhà vô địch cá nhân) theo đúng nghĩa của nó mới được tổ chức, qui tụ được kỳ thủ khắp mọi miền đất nước tham gia. Giải đầu tiên này được tổ chức ở Đà Nẵng. Dưới đây là các thông tin kỷ lục liên quan đến loạt giải đấu này:
*Cho đến nay giải cờ Tướng vô địch cá nhân quốc gia đã được tổ chức liên tục hàng năm tổng cộng 14 lần (tính đến năm 2005)
[img maxheight=150 maxwidth=150]xq166-0.jpg;right;Lão Tướng Trần Đình Thủy – người đoạt huy chương nhiều tuổi nhất[/img]*Giải đã xác định được sáu nhà vô địch nam: Mai Thanh Minh, Trương Á Minh, Trềnh A Sáng, Đào Cao Khoa, Đặng Hùng Việt và Nguyễn Vũ Quân; sáu nhà vô địch nữ: Lê Thị Hương, Hoàng Hải Bình, Châu Thị Ngọc Giao, Ngô Lan Hương và Phạm Thu Hà
*Nhà vô địch nam đầu tiên: [topic id=100]Mai Thanh Minh[/topic]. Nhà vô địch nữ đầu tiên: Lê Thị Hương
*Người đoạt ngôi vô địch nam nhiều lần nhất là Mai Thanh Minh (5 lần), tiếp sau là [topic id=183]Trềnh A Sáng[/topic] (4 lần) và Nguyễn Vũ Quân (2 lần). Người chiếm ngôi vô địch nữ nhiều lần nhất là Lê Thị Hương (7 lần), Ngô Lan Hương (3 lần), Hoàng Hải Bình (2 lần)
[img maxheight=150 maxwidth=150]xq9-0.jpg;right;Nguyễn Vũ Quân – nhà vô địch nam ít tuổi nhất[/img]*Nhà nam vô địch nhiều tuổi nhất là Mai Thanh Minh, ở lần vô địch thứ 5 năm 1998 ông đã 41 tuổi. Trềnh A Sáng đoạt ngôi vô địch lần thứ 4 năm 2000 cũng khoảng 41 tuổi. Nhà nữ vô địch nhiều tuổi nhất là Lê Thị Hương. Chị đã đoạt ngôi vô địch lần thứ 7 năm 1998 khi 35 tuổi. Tuy nhiên, nếu tính gộp tất cả những người từng đạt huy chương (vàng, bạc và đồng) thì khó ai vượt qua “lão tướng” [topic id=160]Trần Đình Thủy[/topic]. Ông đoạt huy chương bạc (Á quân) hai lần, lần đầu năm 1998 khi 60 tuổi và lần hai năm 2003 khi đã 65 tuổi.
[img maxheight=150 maxwidth=150]xq284-2.jpg;right;Phạm Thu Hà – Nhà vô địch nữ trẻ tuổi nhất[/img]*Nhà vô địch nam ít tuổi nhất là [topic id=41]Nguyễn Vũ Quân[/topic], đoạt ngôi vô địch lần đầu năm 2004 khi mới 21 tuổi và lần 2 năm 2005 khi 22 tuổi. Nhà vô địch nữ ít tuổi nhất là Phạm Thu Hà, đoạt ngôi vô địch lần đầu năm 2003 khi cô mới 16 tuổi và đang là nữ sinh lớp 10.
Chuyện cổ tích mới về hòn Vọng Phu
- Nguyễn Đắc Phong
- 26/04/2006
- 0
[img]xq520-0.jpg;right;Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh[/img]Vào những lúc rảnh rỗi anh thường bầy bàn cờ chơi một mình đề tìm nước đi hay. Ở huyện bên có một ông già cao cờ. Anh hay sang thăm và thi đấu với ông. Anh thua nhiều hơn được. Càng thua càng ham, anh bỏ bễ cả việc nhà để đi đánh cờ. Người vợ khuyên bảo chôgng không được giận lắm, một hôm ôm con mấy tháng tuổi bỏ về nhà mẹ đẻ. Chị muốn chồng phải đến tìm mình xin lỗi, hứa không còn chơi cờ nữa rồi mới về với chổng. Đợi cả tuần không thấy chồng đến chị bắt đầu lo. Chị thắc thỏm định ôm con về tìm chồng thì thấy anh đến. Chị làm mặt giận bỏ vào nhà trong. Anh chổng xách theo con gà, làm cơm thết đãi cả nhà. Đoạn anh nói xin nhờ bố mẹ vợ trông nom giúp vợ và con, anh sẽ lên đường đi học cờ ở nơi xa. Bao giờ thành tài anh mới về. Chị vợ nghe càng giận, không cho anh gặp mặt.
Ngày hôm sau, anh từ biệt gia đình, hàng xóm, xuống thuyền đi theo sông Kỳ Cùng và từ đó không thấy anh về nữa. Chị vợ đợi chồng một tuần, ba tuần, một năm, ba năm. Chị càng đợi càng bồn chồn nhớ anh da diết. Chiều chiều, chị trèo lên đỉnh núi, mắt dõi về phương xa, hướng anh đi khuất nẻo chân trời. Đứa con chị bồng trên tay nhớ bố khóc thút thít. Tiếng trẻ con khóc vọng xuống chân núi làm rừng núi buồn lây. Các chú chim non ở các tổ chim rải rác quanh chân núi ngóng lên đỉnh chiêm chiếp như muốn gọi người chồng trở về. Một hôm, người ta không nghe thấy tiếng khóc và tiếng chim kêu nữa. Chị vợ bồng con đã hóa đá trên đỉnh núi.
Bảy năm sau, người chồng bỗng trở về. Bà con làng xóm gặp anh thì mừng lắm. Trông anh rắn rỏi, cương nghị hơn ngày ở nhà. Nghe bà con kể lại vợ đã hóa thành đá trên đỉnh núi anh đau đớn nghẹn ngào. Anh leo lên đỉnh núi, thắp cho chị một nén hương và rút trong túi bên mình ra một quân cờ. Những năm lưu lạc bên Tầu anh đã trở thành cao thủ trong làng cờ. Vua nước Tầu mời anh vào cung. Các cao thủ của Vua nước Tầu lần lượt bị anh đánh bại. Vua nước Tầu muốn gả công chúa cho anh. Anh nhớ người vợ ở quê nhớ đến con còn bé, anh xin cáo từ. Ngày chia tay nhà vua tặng anh bộ quân cờ bằng ngọc. Ai để bộ quân cờ này trong người vào mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát. Đêm đêm, bộ quân cờ phát ra ánh sáng xanh biếc.
Anh muốn cho vợ xem nhưng vợ anh không còn nữa. Anh muốn dạy con anh chơi cờ nhưng con anh đã là vật vô tri, hình như mi mắt còn vương ngấn lệ. Anh đặt quân Tướng dưới chân người vợ hiền thảo chờ chồng.
Kể từ ấy, không ai biết anh đi đâu.
Bà con gọi đấy là hòn Vọng Phu. Ở dưới chân bức tượng đá có một hòn đá nhỏ xanh biếc, mặt phẳng lý, người ta bảo đấy là quân Tướng trong bộ quân cờ bằng ngọc. Vào những đêm trăng tròn, gió mát, ở chân núi thường nghe thấy tiếng chan chát từ đỉnh núi vọng xuống, người ta lại bảo đấy là người chồng đang chơi cờ quanh đây.
Anh vẫn kiên trì chờ vợ con tỉnh giấc để đến với anh, cả nhà sẽ sống trong hạnh phúc.
[b]Nguyễn Đắc Phong[/b]
Bổ xung của Bạn cờ
[b]Chuyện cổ tích “mới” về hòn Vọng Phu – phiên bản thật[/b]
Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng, Lạng Sơn là một thắng cảnh nổi tiếng, gắn liền với câu chuyện cổ tích vợ đợi chồng. Tuy nhiên nó đã bị một số người dùnh mìn phá sập, lấy đá nung vôi. Chính quyền Lạng Sơn buộc phải giải quyết hậu quả bằng cách đắp lại nàng Tô Thị (hòn Vọng Phu) bằng xi măng. Còn câu ca dao nổi tiếng được người dân sửa lại thành:
[i]Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị nó vừa nung vôi[/i]
Thiết nghĩ đây cũng là một chuyện cổ tích được viết lại không kém bi kịch với câu chuyện chính.