[img]xq321-0.jpg;right;[/img]Mấy điều cần nhớ cho sâu
Nước cờ cao thấp khởi đầu thấy ngay
Ra quân phải thoáng mới hay
Đừng nên xối xả thẳng tay tiến bừa
Nước đi chớ phí, chớ thừa
Trước sau một nước thắng, thua là thường
Dù cho lực lượng tương đương
Nếu không tính kỹ dễ thường bó tay.
Đánh cờ đâu chuyện rủi may
Trí cao lực thấp, dở hay biết liền
Cho nên thủ pháp đầu tiên
Chiến thuật hợp lý xuống lên vững vàng
Nhìn tinh từng nước đối phương
Bao nhiêu cạm bẫy phải lường hiểm nguy.
Biết ta biết địch mà suy
Tấn công đâu có chỉ vì ăn quân
Đừng cho dụng thế hợp quần
Đồng biên tam tử là gần như thua
Pháo đầu cần phải ngăn ngừa
Gặp tay kỳ cựu dễ đưa vào tròng
Pháo nách mắc phải long đong
Rút lên rút xuống như còng khóa tay
Pháo trống cũng dễ lung lay
Tướng không xuất ngoại thua ngay tức thì
Pháo lăn mắc phải khốn nguy
Ngang tầm bộc phá thành trì tan hoang.
Cờ tàn mà thật đàng hoàng,
Một Mã thả sức hiên ngang tung hoành
Thế trận Mã Tốt đã dành
Biết dùng binh pháp ắt thành như mong
Khuyết Sĩ liệu trước đề phòng
Song Xa tối kỵ đừng hòng Tướng an
Tốt biên quý lúc có tàn
Qua hà đáng giá nghìn vàng đó sao.
Cờ tàn mới rõ thấp cao
Biết hòa biết thắng nhìn vào thấy ngay
Thấp cờ sao biết điều này
Chỉ là giải trí giải khuây đỡ buồn.
Nếu cầu tiến bộ luôn luôn
Phải mua tạp chí phải ôn, phải nghiền.
Thấp cao cũng vẫn Cờ Tiên.
Thể thao Trí tuệ luyện rèn thêm vui!
Related Posts
Đặng Hồng Việt – Kỳ thủ có “hùng tâm”
- Amin
- 14/03/2006
- 0
[img]xq405-0.jpg;right;Đặng Hồng Việt (1975-2005) (ảnh VT)[/img]Ông Đặng Hoàng Dũng, người cha của Việt vốn là một cao thủ trong làng cờ. Ông Dũng trở thành người thầy đầu tiên dạy Việt chơi cờ. Nhận thấy Việt tiếp thu tốt, ông tìm kiếm sách cờ về cho con đọc và làm “quân xanh” cho Việt tập luyện. Vào các buổi tối, hai cha con lại mang bàn cờ ra tôi luyện. Việt bắt đầu chơi theo bài bản, trình độ nâng dần. Anh cũng tăng cường tiếp xúc với các kỳ thủ Hà Nội để tích luỹ kinh nghiệm thực tế.
Do học lý thuyết tuần tự nên rất nhiều bài bản cũ, làng cờ bỏ quên nhiều năm được Việt đào xới lại, áp dụng vào thi đấu, gây bất ngờ lớn cho đối phương. Có lần, ở giải cờ tướng truyền thống chùa Vua (Hà Nội) anh đã mang một bài “cũ rích” ra hạ đo ván cao thủ Đào Cao Khoa, làm Khoa kêu giời “tại sao nó nghĩ ra nước Xe tiến hà cao thế?”.
Năm 1995 ông Đặng Hoàng Dũng được mới làm huấn luyện viên đội tuyển cờ tướng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. Ông đưa Việt đến giải cờ Tướng toàn quốc. Cánh buồm nhỏ đã vượt ra biển lớn và Việt trưởng thành nhanh chóng. Anh tham gia đội tuyển cờ Tướng Hà Nội cùng với Đào Cao Khoa. Năm 1999, Đào Cao Khoa giành được Cúp vô địch cờ Tướng toàn quốc thì nhiều người đã thấy Việt là một kỳ thủ đầy triển vọng cho vị trí vô địch nay mai.
Năm 2003, để chuẩn bị cho giải vô địch cờ Tướng hạng Nhất toàn quốc, bộ môn Cờ của Sở TDTT HN tổ chức một đợt tập huấn xếp thứ hạng. Đặng Hồng Việt xếp hạng 4 trong đợt này. Tuy nhiên, khi vào giải anh cố gắng vượt bậc, đoạt vị trí quán quân cờ Tướng toàn quốc. Anh đã mang đến giải một cách chơi đầy sức sáng tạo làm các tuyển thủ TP.HCM, đối thủ chính của Hà Nội, hết sức ngỡ ngàng. Trong giải này, anh đã “thi thố” một loạt bố cục “cũ rích”, nay đã được cách tân và áp dụng trong thi đấu. Cùng với anh, các kỳ thủ Hà Nội đã làm cuộc “lật đổ” ngoạn mục, chiếm vị trí dẫn đầu giải, vốn xưa nay vẫn thuộc về TP.HCM.
Năm 2004, đoàn cờ Tướng Trung Quốc sang Việt Nam thi đấu giao hữu. Khi đoàn Trung Quốc ra Hà Nội, Đặng Hồng Việt được phân công tiếp Đặc cấp quốc tế đại sư Từ Thiên Hồng, cựu vô địch thế giới và cựu vô địch Trung Quốc. Anh cầm hoà với Từ Thiên Hồng trong một ván đấu hoàn toàn ngang cơ. Sau ván đấu, nhà cựu vô địch thế giới nhận xét: “Việt trẻ tuổi nhưng có “hùng tâm”.
Ông nói hai bên chơi theo bố cục “tả Pháo phong Xa”, ở Trung Quốc ông đã chơi theo bố cục này hàng nghìn ván nhưng chưa thấy ai chơi như Việt, dám thi thố “tân chiêu” ăn thua đủ với ông. Đi nhiều nơi ở Đông Nam Á, các cao thủ gặp ông toàn thi đấu với tinh thần “hoà là tốt lắm rồi” nên ông rất hạnh phúc khi gặp một đối thủ dám “quyết chiến”. Ông nhận định: [i]Muốn biết cờ Tướng Việt Nam phát triển thế nào thì hãy đến Hà Nội[/i].
Ván thứ hai, Việt gặp Đặc cấp quốc tế đại sư Lý Lai Quần, người đã từng 4 lần vô địch Trung Quốc. Ván này anh thắng Lý một cách đầy thuyết phục. Nhà báo Trung Quốc trong đoàn đã phỏng vấn anh ngay sau ván đấu. Anh trả lời nhã nhặn: [i]về cuối ván đại sư Lý Lai Quần bị hết giờ nên đi vội mấy nước và thua. Tôi cũng như nhiều kỳ thủ Việt Nam khác rất yêu mến, hâm mộ danh thủ Lý Lai Quần. Mong còn có dịp học hỏi ông[/i].
Nhưng bây giờ anh không còn được chơi cờ với các danh kỳ Trung Quốc và Việt Nam nữa. Anh đột ngột ra đi giữa lúc tài năng đang nở rộ. Chỉ vừa mới đây thôi lứa đàn em của anh đã trưởng thành, với một Nguyễn Vũ Quân làm nên điều kỳ diệu: đoạt huy chương đồng trong giải vô địch cờ Tướng thế giới. Nguyễn Vũ Quân đã mang đến giải thế giới một lối chơi Việt Nam, mà Đặng Hồng Việt là một trong số những người đã khai phá mở đường.
Cờ Tướng Nhập Môn: Chương IV Sự phối hợp tác chiến giữa các quân – Xe, Mã phối hợp
- Quách Anh Tú, Lê Thiên Vị
- 07/02/2006
- 0
[b]5. Xe, Mã phối hợp[/b]
Xe đi đường thẳng, Mã nhảy đường quanh, Xe đi nhanh, Mã nhảy chậm chạp. [b]Thế nhưng hai binh chủng này hợp lực thì phát huy được điểm ưu hạn chế điểm khuyết, giống như Hổ thêm cánh, uy lực tăng cao. Có rất nhiều bài học phối hợp giữa Xe, Mã rất độc đáo, nhất là ở giai đoạn cờ tàn. Ta xem các ván sau.
[b]Thế 1: Xe, Mã phối hợp chiếu bí.[/b]
[game]
FORMAT WXF
GAME Xe, Mã phối hợp chiếu bí
RED Trắng
BLACK Đen
FEN 3a1ke2/4a1R2/c4rH2/9/9/9/9/9/3p5/4K4 w – – – 1
START{
DIAG{ #1 RED }
1. X3.1 Tg6.1 2.X3-4! S5/6 3. M3.2 }END[/game]
thắng.
Thế này còn có sự hỗ trợ của Tướng.
[b]Thế 2: Tá Mã sử Xa.[/b]
[game]
FORMAT WXF
GAME Tá Mã sử Xa
RED Trắng
BLACK Đen
FEN 2ea1k3/4a4/4e4/5H3/6p2/9/2r6/2h5R/3pA4/4KA3 w – – – 1
START{
DIAG{ #1 RED }
1. X1.7 Tg6.1
/*Nếu 1…T5 /7 thì X1 -3 dẫn đến thế thua giống như cuộc chính.*/
2. M4.2 Tg6.1
3. X1/1 T5.3
/*Trắng lui Xe về hăm đánh bí, buộc Đen phải chạy Tượng mở đường Tướng chạy.*/
4. M2.3! Tg6-5
5. X1/1 S5.6
6. X1-4 }END[/game]
thắng.
Thế này Trắng phối hợp Xe, Mã rất đẹp khiến Đen muốn chống đỡ cũng không chống đỡ được, cuối cùng bị đánh bí.
Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương Đông (3)
- Tùng Lâm
- 12/02/2006
- 0
Khi Chaturanga tới được Trung Quốc thì người Trung Hoa vừa chơi vừa ngẫm nghĩ: rằng hay thì thật là hay nhưng lại quá lạ lẫm và có cái gì đó có vẻ “không ổn” đối với một đất nước Khổng giáo theo khuôn phép “trung quân ái quốc”, trên dưới nghiêm ngặt, con người sống theo đạo lý phương đông “nhân nghĩa trí dũng”. Việc trên mỗi bàn cờ có một vị vua, vạn bàn cờ có vạn vị vua mà từ người lớn tới trẻ con, từ kẻ giàu tới kẻ hèn cứ thi nhau rượt đuổi để chém chết vua. Trước khi nhấc vua ra khỏi bàn người ta còn đập một cái “chát” nảy lửa lên đầu vua rồi nhìn vua nằm chết lăn quay mà phá ra cười hể hả. Tất cả những điều đó không chỉ động chạm tới phép “kỵ húy” mà còn là một sự ngỗ ngược, phạm thượng công khai và biết đâu từ đó sẽ nảy ra ý đồ phản nghịch của những “loạn thần tặc tử”.
Không thể để một loại cờ “ngoại” làm bại hoại “luân thường đạo lý” như thế. Nhưng nói cho cùng thì loại cờ mới lại rất hay, ai cũng thích chơi, dẫu có ngăn cấm thì vẫn còn khối kẻ chơi lén lút.
[img]xq378-3.jpg;center;[/img]
Các đại thần bèn đi tới quyết định: vẫn để chơi nhưng phải thay đổi triệt để, phải xoá tan những dấu vết kích động sự “phản nghịch”, phải Trung Hoa hóa cờ này về mọi phương diện, biến của ngoại thành của nội. Ở một đất nước như Trung Hoa thì ý của bề trên được coi như “thánh chỉ”, thần dân chỉ có việc nhất nhất tuân theo chứ không còn bàn cãi gì thêm. Cuộc cải cách cờ Tướng được thần dân chấp hành răm rắp. Điều đó giải thích tại sao việc cải cách cờ Tướng diễn ra rất thành công và hoàn chỉnh tới mức ngót một nghìn năm qua nó hoàn toàn ổn định, không có thêm bất kỳ sự thay đổi nào trên bàn cờ, trong khi trong suốt thời gian đó, cờ Vua đã phải trải qua rất nhiều cải tiến mới có được cờ Vua như bây giờ.
Trước tiên họ “làm phép” để biến “vị thiên tử” thành một “tướng quân” nhằm chấn dứt sự “mang tiếng” tệ hại nhất. Đã thành Tướng rồi thì thiên hạ tha hồ mà chém giết. Ở đất nước này trận chiến nào mà chẳng có tướng rơi đầu dưới gươm. Thật là một sáng kiến hết sức khôn ngoan để tránh tiếng, không ảnh hưởng gì tới “đương kim thánh thượng”. Nhưng về thực chất thì [b]đó vẫn là vua[/b], ta phân tích kỹ ở phần sau.
Thế nhưng người Trung Hoa không dừng lại ở chuyện rất chi là “hình thức” ấy mà họ quyết tâm cải tiến cả phần nội dung. Họ không quan niệm cờ là một bãi chiến trường như cờ Vua được, hai bên phải là hai quốc gia giao chiến. Cuộc chiến ở Trung Quốc thường là giữa các quốc gia như Hán, Sở, Tề, Yên, Tần, Triệu… Đã là quốc gia thì phải có biên cương phân định rạch ròi. Thế là sông (từc “hà”) ra đời. Mỗi quốc gia phải có thành quách, cung cấm, thế là cửu cung được hình thành. Việc sắp xếp thế nào để phải tạo ra sự cân đối, có ngôi độc tôn. Tới đây một bước ngoặt rất quan trọng đã được những bộ óc thông minh phi thường phương Đông táo bạo đề xướng: xóa bỏ hoàn toàn việc sử dụng các ô đen trắng xen kẽ nhau và việc đặt các quân vào 64 ô này. Thay vì các ô người ta chuyển sang đặt quân trên đường kẻ. Có như thế mới đáp ứng được các tiêu chí trên.
Sự thay đổi này mang lại hai ý nghĩa vô cùng quan trọng: Thứ nhất, tạo ra sự đối xứng, với trung tâm là “tướng” mà được ngầm hiểu đó chính là vua. Vua phải ở trung tâm, là ngôi độc tôn, phải ở trong cung cấm. Hai bên là hai cận thần (Sĩ phò tá). Bộ ba này không bao giờ được phép rời bỏ cung cấm theo quan điểm “nước một ngày không thể không có vua”. Khác hẳn với Chaturanga là vua có thể chạy lông nhông sang cả bên trận địa đối phương. Tên là quân Tướng nhưng thực chất là Vua một trăm phần trăm (nên có thể nói cờ Tướng đúng ra phải gọi là cờ Vua, còn cờ Vua thì cứ xem cách hoạt động của vua trên bàn cờ thì nên gọi là cờ Tướng mới chính xác).
Tiếp theo là hai con Tượng (voi) cũng thuộc đội vệ binh vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa phòng thủ từ xa, nhưng không được sang bên trận địa đối phương vì người ta nhận ra rằng nếu chỉ có hai anh Sĩ “trói gà không chặt” bảo vệ vua thì vua dễ chết như chơi. Kế đến là đội quân dã chiến gồm kỵ binh và xa trượng. Nhìn vào ta thấy đó là cả một triều đình hoàn chỉnh: có thành cao hào sâu, có cung cấm, có bá quan văn võ xếp hàng đối xứng chầu hai bên, có các binh chủng quan trọng nhất, theo đúng sự cân đối trong mọi cấu trúc của Trung Hoa.
Thế nhưng ngay lập từc một vấn đề không nhỏ xuất hiện: nếu ở Chaturanga với mỗi hàng 8 ô thì 16 quân bố trí thành 2 hàng vừa vặn và đẹp đẽ. Còn ở đây, nếu một hàng đã chiếm mất 9 quân, thì 7 quân còn lại sẽ bố trí ra sao để vẫn giữ được sự cân đối? Quả là nan giải với số 7 lẻ, nhưng rốt cuộc cũng được người Trung Hoa giải quyết trọn vẹn, tài tình: Trước tiên người Trung Hoa đã biết thoát khỏi “khuôn phép” của Chaturanga là cứ phải bố trí hai hàng quân liền kế nhau. Theo họ cách bố trí như thế là khiên cưỡng, làm cho toàn bộ các quân đứng phía sau bị “đóng băng” rất khó “cựa quậy”, mà theo binh pháp Tôn Tử của Trung Hoa, đây là điều tối kỵ. Với phép dụng binh biến hóa theo “Bát quái trận đồ” thì tất cả các cửa đều phải liên thông, tạo ra sự biến hoá khôn lường, cực kỳ linh động. Ở đây có sự vận dụng tư tưởng của binh pháp Trung Hoa để giải quyết việc cải cách Chaturanga.
Trước hết, họ giảm 7 quân Tốt còn có 5 và dứt khoát đẩy hẳn Tốt lên sát biên giới theo quan niệm “lính trấn biên ải” đồng thời chúng trở thành lực lượng xung kích vượt trường giang tràn sang đất địch. Với 5 Tốt đứng cách đều ở 9 đường dọc, xem ra cân đối, hài hòa biết bao. Cũng từng có người giải thích việc sử dụng 5 Tốt là do xưa kia người ta tổ chức lính thành nhóm 5 một. Cách giải thích này hoàn toàn không thoả đáng vì mỗi thời một khác: có thời người ta bố trí theo kiểu “tam tam” tức là 3 lính thành một nhóm, có thời người ta lại bố trí 12 lính thành một cơ đội (như tiểu đội bộ binh hiện đại). Việc bố trí năm Tốt trên bàn cờ chủ yếu là do cấu trúc của bàn cờ quyết định.
Như thế 14 quân đã được bố trí xong, còn lại 2 quân. Như thế là tên các quân cờ theo như tên của Chaturanga, nào là Vua (Tướng), Cố vấn (Sĩ), Tượng binh, Kỳ binh, Chiến xa, Bộ binh thế là hết rồi. Hai quân còn lại sẽ có tên gì đây. Rõ ràng là trên bàn cờ Chaturanga được Trung Hoa hóa hai quân này sẽ phải có tên hoàn toàn mới lạ. Những bộ óc kiệt xuất của đất nước này, sau nhiều suy nghĩ đã nảy ra một ý tưởng mang tính đột phá cực cao: sáng tạo ra quân Pháo. Quân cờ thần diệu này sẽ là cốt lõi và tinh hoa của cờ Tướng. Nó đưa cờ Tướng tới một địa vị vẻ vang không ngờ, cho đến tận ngày nay, tất cả những học giả phương Tây khi nghiên cứu về văn hoá Trung hoa khi nghiên cứu tới cờ Tướng thì thảy đều vô cùng kinh ngạc và khâm phục trước cặp Pháo thần tình, độc đáo với những tính năng phi thường, cách đi và bắt quân diệu ảo của nó. Chính cặp Pháo đã làm cho cờ Tướng khác xa cờ Vua và vượt lên một bậc rất cao so với Chaturanga cổ xưa vốn dĩ khá chậm chạp và còn nhiều ách tắc. Vâng, sau ngót nghìn năm tồn tại, một kết luận chắc nịch đã được đúc kết “Pháo là linh hồn của cờ Tướng”. Người châu Âu cũng đã sử dụng pháo trên chiến trường rất lâu, nhưng những bộ óc thông minh bậc nhất châu Âu chưa hề nghĩ tới phương án đưa Pháo vào bàn cờ.
Nước đi của Pháo mới lạ lùng và thú vị làm sao: tiến lùi ngang dọc y như Xe, nhưng đến khi khai hỏa thì chúng như một dàn hỏa tiễn bắn lên không trung theo hình cầu vồng rồi “rót” xuống đầu đối phương. Như thế chính người phương Đông đã biến bàn cờ chỉ có hai chiều (mặt phẳng) thành bàn cờ có ba chiều (có cả chiều cao) tức là từ “diện tích” trở thành “không gian”. Cũng có nghĩa là cuộc giao chiến không chỉ ở mặt đất như Chaturanga hay ở Vua mà còn ở cả trên không trung nữa (như tên lửa mang đầu đạn vậy).
Chính là cờ Tướng chứ không phải loại cờ nào khác nhờ những đòn đánh Pháo mà trở nên cực kỳ sinh động, hấp dẫn, với những ý tưởng tấn công hay hiệp đồng tấn công táo bạo, bay bổng đến mức không ngờ. Cặp Pháo được đặt ở hai vị trí lý tưởng: đi ngang hay đi dọc đều thông suốt và đều phát huy “hỏa lực”, tới mức tối đa, mà Đương đầu Pháo được coi là trận “xáp lá cà” hấp dẫn bậc nhất. Pháo là tinh túy của cờ Tướng tới mức từ cổ chí kim, tất cả các tác phẩm kinh điển của Tượng kỳ không có quyển nào là không đề cập tới những đòn đánh Pháo, từ Quất Trung Bí, Mai Hoa Phổ cho tới Bách Cục Tượng Kỳ Phổ, Phản Mai Hoa… cho tới tận thời kỳ đương đại, những quyển sách chuyên về Pháo vẫn chiếm đại đa số trong kho tàng lý luận và thực tiễn cờ Tướng.
[img]xq110-0.jpg;right;Pháo là tinh túy của cờ Tướng[/img]
Người ta đã đổ không biết bao nhiêu giấy mực và công sức để nghiên cứu những đòn đánh Pháo từ khai cuộc, trung cuộc tới tàn cuộc. Có tới hàng chục, thậm chí ngót trăm thế trận của Pháo, tử đơn Pháo tới đôi Pháo, Pháo tấn công, Pháo phòng thủ, Pháo kẹp quân, Pháo ngáng đường đối phương, Pháo cản Mã, Pháo giơ lưng đổ đòn cho những nước chiếu tướng chết người, ở tàn cuộc Pháo hợp với những anh Sĩ “thư lại” ngay tại hoàng cung của mình hoàn toàn có thể tiêu diệt Tướng đối phương ở xa tít mù trong cung bên kia. Pháo có thể phát hỏa ngay khi cuộc cờ mở màn mà cũng có thể lẳng lặng chui vào góc kín nằm chờ thời cơ hay chơi đòn độc cùng Xe thực hiện nước “chiếu rút” kinh hoàng. Những nước chiếu rút lặp đi lặp lại như thế chẳng khác nào chiếc cối xay lần lượt nghiền nát lực lượng đối thủ… Còn có những thế trận Pháo được đặt tên như Uyên ương Pháo, Quy bối Pháo, Thiên phong Pháo… biết bao hấp dẫn và đồng thời cũng mở ra những cuộc tranh luận không ngớt về tính nghệ thuật, điểm mạnh điểm yếu, cái hay cái dở của từng thế trận, cho đến nay cuộc tranh luận vẫn không hề ngừng.
Cứ nhìn vào bàn cờ Tướng và bàn cờ Vua ta sẽ thấy cách bố trí ba lớp quân ở toàn trận địa của cờ Tướng thật là sinh động, có tầng có lớp và mang ý nghĩa rất rõ rệt. Trong khi Tướng được bảo vệ bằng ba vòng vững chắc thì việc công kích đối phương cũng rất thông suốt. Không phải tất cả các quân đều được phép xông sang đất địch như cờ Vua mà là có kẻ được xông ra chiến trận, có người phải luôn ở nhà. Mỗi một quân được xác định một vai trò dứt khoát và bình ổn từ đầu cho tới cuối ván cờ, không có những biến động như kiểu được “phong cấp” ở cờ vua và cũng rất ít những ngoại lệ cần phải ghi nhớ. Các quân đều cơ động, thoáng đãng, ngay ở khai cuộc cũ nó đã có tới hàng chục nước ra quân linh hoạt, thậm chí hai bên có thể bắn phá tiêu diệt nhau ngay, không quân nào “chèn ép” quân nào. Việc mất mát một vài Tốt ngay từ đầu cũng không thành một “thảm họa” như trong cờ vua. Cờ tướng mang đậm tính cách và quan niệm về chiến cuộc của người phương Đông.