Bùi Khang là một trong những kỳ thủ thuộc tốp đầu của Hà Nội. Anh hay ra phố Đại La chơi cờ ở quán nước. Một hôm, có bạn cờ là Lê Vinh đi qua thấy Khang đang chơi cờ liền rẽ vào xem. Đối thủ của Khang là Tuấn “vịt con”, nổi tiếng là chơi cờ thấp nhất phố Đại La. Ván cờ sắp kết thúc, nhìn Khang thua đến nơi Vinh ngạc nhiên lắm. Anh buột mồm mách nước: “nhẩy Mã lên hà đi!”. Khang reo to: “A, đúng rồi”. Anh nhẩy Mã lên hà và ván cờ hòa. Khang xoa tay kêu bận, hẹn mai chơi tiếp. Anh kéo Vinh đi uống nước. Ra xa anh mới nói: “Ông hâm quá! Ai bảo ông mách nước để tôi hòa?” Hóa ra Khang đang cầu thua. Một tháng nay anh đến phố này chơi cờ. Anh biết là Tuấn thấp nhất nên bao giờ chơi với Tuấn anh cũng thua. Các “vịt” ngồi quanh thấy anh thấp hơn cả Tuấn thì mừng lắm, xúm vào “chăm”. Tất nhiên là thua, nhưng cả “đàn vịt” vẫn đinh ninh là do họ “sơ sẩy”, nếu chơi cẩn thận là họ phải thắng. Và họ “sơ sẩy” như vậy vài tháng mà vẫn không “tỉnh” ra được. Thế mới là “vịt”.
Related Posts
Cờ Tướng Khai cuộc cẩm nang: Chương I Khai cuộc – mấy khái niệm cơ bản (1)
- Trần Tấn Mỹ, Lê Thiên Vị, Phạm Tấn Hoà, Quách Anh Tú
- 16/03/2006
- 0
Chương I Khai cuộc – mấy khái niệm cơ bản
[b]I. Ý nghĩa và tầm quan trọng của khai cuộc[/b]
Xét theo thứ tự thời gian, một ván cờ thường được chia làm ba giai đoạn: khai cuộc, trung cuộc và tàn cuộc. Sự phân chia này tuy có tính cách qui ước nhằm dễ dàng nghiên cứu nhưng nó phản ánh một thực tế là có giai đoạn mở đầu rất quan trọng. Giai đoạn này gồm bao nhiêu nước thì chưa có sự thống nhất giữa những nhà nghiên cứu, nhưng thông thường người ta cho rằng giai đoạn này phải kéo dài từ 8 đến 12 nước đi đầu tiên. Sở dĩ nói giai đoạn này rất quan trọng vì nó thực sự có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình diễn biến ván cờ. Ta thấy nhiều ván do khai cuộc tồi nên kết thúc sớm, không có giai đoạn tàn cuộc, thậm chí do khai cuộc lỗi lầm nghiêm trọng cũng không có cả giai đoạn trung cuộc.
Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của khai cuộc phải trải qua nhiều chặng đường lần lần mới sáng tỏ, vì không phải từ thời xa xưa các tay cờ đã có ngay được những nhận thức đúng đắn. Bởi thời trước, hầu hết các tay cờ đều nhận định rằng ván cờ căng thẳng, quyết liệt và nổi rõ sự hơn kém là ở giai đoạn trung cuộc và tàn cuộc. Như vậy theo họ nghĩ, hai giai đoạn sau phải quan trọng, quyết định hơn giai đoạn đầu. Với nhận thức như thế nên họ chỉ quan tâm nghiên cứu trung cuộc và tàn cuộc, ít khi chịu gia công học tập và nghiên cứu khai cuộc. Trong khi đó một số danh kỳ các thế kỷ trước có lúc đua nhau nghiên cứu tổng kết cờ tàn và cờ thế nên vô hình trung củng cố thêm những nhận thức lệch lạc trên. Điều tệ hại là nó tác động khiến một số tay cờ có quan điểm đánh giá rất thấp vai trò của khai cuộc và coi như không cần thiết phải nghiên cứu. Họ nghĩ “vô chiêu thắng hữu chiêu” là không cần học tập, chơi không bài bản cũng thắng được những người chơi theo sách vở, nhưng họ không biết muốn chơi được kiểu “vô chiêu” lại càng phải nghiên cứu, học tập kỹ hơn ai hết. Đến đầu thế kỷ 20 thì mọi chuyện đã sáng tỏ, hầu hết các danh thủ đều khẳng định khai cuộc có tầm quan trọng đặc biệt. Những ai chơi cờ theo ngẫu hứng trong khai cuộc đều không thể đương cự được với những người có học tập, nghiên cứu. Chính từ thực tiễn thi đầu các danh thủ đã rút ra kết luận đó. Nhưng rồi lại có những quan điểm lệch lạc khác khi có một số người lại đề cao quá mức giai đoạn này. Cho nên đã có lúc cũng nổi lên những cuộc tranh luận xung quanh nhận định, đánh giá lại vị trí và tầm quan trọng của khai cuộc. Cuối cùng người ta đã phân tích khách quan và thống nhất kết luận rằng cả ba giai đoạn khai, trung, tàn cuộc đều có ý nghĩa và tầm quan trọng quyết định, và các giai đoạn đều có mối quan hệ khăng khít với nhau. Chơi khai cuộc tốt thì mới có một trung cuộc ưu thế và từ một trung cuộc ưu thế mới dẫn về một tàn cuộc thắng lợi. Tuy nhiên để thấy rõ tầm quan trọng nổi bật của khai cuộc người ta thường nêu một tỷ lệ đáng tham khảo là phần khai cuộc quyết định 40%, còn phần trung và tàn cuộc mỗi giai đoạn quyết định khoảng 30%.
Tóm lại, khai cuộc là giai đoạn triển khai các lực lượng, khởi sự từ nước đi đầu tiên và chấm dứt với sự điều động hầu hết các quân chủ lực ở cả hai cánh để tạo thành một thế trận tấn công hoặc phòng thủ. Việc hình thành một thế trận phải xuất phát từ một kế hoạch hẳn hoi, đó là chiến lược dàn trận của người điều khiển trận đấu.
[b]II. Mục tiêu ván cờ và mục tiêu trong khai cuộc[/b]
Để hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của những nước đi trong chiến lược dàn quân, ta cần phải nắm vững mục tiêu trong khai cuộc. Bài học đầu tiên cho những người mới học chơi cờ đã chỉ rõ [i]”chiếu bí Tướng đối phương là mục tiêu chính của ván cờ”[/i], nhưng trong giai đoạn khai cuộc, mục tiêu này chỉ là một mục tiêu phụ. Bởi lẽ giai đoạn này các quân cờ mới được triển khai, chưa có điều kiện gì để bắt bí Tướng đối phương. Tất nhiên trong một vài trường hợp hãn hữu, gặp phải đối phương chơi quá tồi hay đãng trí thế nào đó ta cũng có thể bắt được Tướng ngay trong khai cuộc. Nhưng với những đối thủ tương đối có trình độ thì mục tiêu trong khai cuộc phải đặt thấp hơn, không thể chủ quan đặt mục tiêu quá cao, sẽ là điều không tưởng đối với những người chơi cờ ngay nay. Hẳn nhiên những mục tiêu đề ra trong khai cuộc phải luôn gắn với mục tiêu tối hậu và chiếu bí kẻ địch.
[b]Vậy thì mục tiêu trong khai cuộc là gì?[/b]
Những nước triển khai quân hợp lý, chính xác trong khai cuộc sẽ tạo một nền tảng vững chắc cho một thế trận trước khi chuyển sang giai đoạn trung cuộc. Như vậy mục tiêu ban đầu trong khai cuộc là các quân phải cố giành cho được những vị trí thuận lợi trên bàn cờ, tiếp đó là tiêu diệt một bộ phận nhỏ sinh lực địch – thường là một hai con Tốt. Từ những thắng lợi nhỏ đó dẫn đến những ưu thế làm nền tảng vững chắc cho trung cuộc và tàn cuộc. Mặt khác cũng đòi hỏi trong thế trận của ta không được có những điểm yếu – những điểm mà ta phải luôn canh chừng đối phương khai thác gây khó khăn cho ta. Ngược lại, ta phải cố gắng không cho đối phương chiếm những vị trí tốt, tìm cách phong tỏa ngăn cản để đối phương triển khai càng chậm càng tốt hoặc uy hiếp, đe dọa ngay những điểm yếu của họ.
Trong Cờ Tướng người ta thường phân biệt các trường hợp để đánh giá: nếu ta đi trước, các quân chiếm vị trí tốt và chực chờ tấn công, buộc đối phương phải đề phòng đối phó, người ta gọi đó là giành quyền chủ động, ngược lại là đối phương bị động. Đó là mức thấp nhất của một ưu thế. Trường hợp ta tiêu diệt 1-2 con Tốt hoặc Mã thì chỉ mới là lời quân, nếu ta đồng thời cũng giữ quyền chủ động thì đó mới là một ưu thế. Thông thường người ta quan niệm giành được quyền chủ động là được tiên còn bị động đối phó là hậu thủ. Trong nhiều trường hợp bên được tiên chơi không chính xác bị đối phương trả đòn, phản kích phải chống đỡ thì gọi là mất tiên, còn bên đối phương gọi là phản tiên. Như vậy có thể nói mục tiêu của khai cuộc đối với bên đi tiên vốn nắm quyền chủ động thì phải tiếp tục giữ cho được quyền chủ động này lâu dài, tiến lên kiếm lời 1-2 Tốt hoặc nếu có thể thì lời quân (hơn 1 Mã hoặc 1 Pháo) hay lời chất (Pháo hoặc Mã đổi lấy Xe). Trong kế hoạch tiêu diệt sinh lực địch, có khi người ta cũng nhằm đến việc lời Sĩ hoặc Tượng của đối phương để chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho giai đoạn trung, tàn cuộc sau này. Còn đối với bên đi hậu vốn phải bị động chống đỡ cần cố gắng chơi chính xác để không cho đối phương khai thác tấn công, lần lần đưa đến thế cân bằng. Nếu đối phương sơ hở phải kịp thời khai thác trả đòn giành lại quyền chủ động rồi tiến lên giành ưu thế.
Lúc này cần nói rõ thêm vấn đề ưu thế với vấn đề lời quân, lời chất. Vì những vấn đề này thường xuyên đặt ra cho mọi đối thủ, đặc biệt là thường nẩy sinh ngay trong khai cuộc.
Như trên đã nêu, thông thường người ta đánh giá một thế cờ căn cứ vào hai yếu tố: nước tiên và thực lực. Nước tiên là giành được quyền chủ động, còn thực lực là xem xét tương gian quân số đôi bên. Nếu một bên có cả hai yếu tố vừa chủ động, vừa hơn quân, hơn chất thì rõ ràng bên đó đang chiếm ưu thế.
Nhưng trong thực tiến thi đấu thường xảy ra hiện tượng: một bên sẵn sàng hi sinh quân để giành lấy thế chủ động tấn công, có thể uy hiếp đối phương rất mạnh thì người ta coi đó là ưu thế. Bên lời quân, lời chất phải bị động đối phó thì không thể đánh giá là ưu thế được mà phải gọi là thất thế. Muốn cứu vãn tình trạng bị uy hiếp bên thất thế thường phải hi sinh quân để giảm bớt áp lực của đối phương.
[FEN]1H1akaer1/9/4e4/p1p2c2p/9/2P4h1/P3P1p1c/C3C4/4H4/1REAKAE2 w – – – 1[/FEN]
Chẳng hạn ván cờ bên: Trắng lời quân nhưng thất thế, Đen lỗ quân nhưng đang có thế tấn công.
Như vậy giữa hai yếu tố thế chủ động với lời quân hoặc lời chất thì yếu tố đầu luôn được đánh giá cao hơn yếu tố sau. Thế nhưng yếu tố chủ động chỉ là một tình thế tạm thời, nếu khéo phát huy thì có thể biến thành thắng lợi, ăn quân, hơn chất trở lại hoặc chiếu bí Tướng đối phương. Còn nếu không biết phát huy để đối phương tập hợp được lực lượng chi viện xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc thì yếu tố chủ động sẽ mất dần đi. Trong khi đó yếu tố hơn quân, hơn chất thường là tình trạng kéo dài, nếu không có gì bắt buộc họ phải hi sinh, trả quân, trả chất thì yếu tố này càng lúc càng trở nên quan trọng. Bởi vì khi thế cờ đã lập lại cần bằng thì yếu tố lực lượng sẽ là yếu tố chi phối.
Từ thế kỷ 16, 17 các danh kỳ đã nhận thức đúng đắn về hai yếu tố này nên bài “Kỳ kinh luận” có ghi: “Bỏ quân cần được nước tiên. Bắt quân chớ để hậu thủ”. Chu Tấn Trinh viết quyển “Quất trung bí” đã lặp lại quan điểm này trong bài “Toàn chỉ” của mình và cho đến nay dù trình độ cờ đã phát triển rất cao, vẫn chưa có một danh thủ nào tỏ ra phản bác quan điểm trên.
Bàn thêm về ngôn ngữ cờ Tướng
- Bình Minh
- 11/09/2005
- 0
Cờ Tướng thì ai cũng thích chơi. Con nhìn bố, cháu nhìn ông chỉ qua mấy lần là chơi được. Nếu có thì giờ và ham mê thì còn chơi khá hay nữa. Thế nhưng khi cầm một quyển sách cờ thì phần đông cảm thấy nản, nhất là những quyển sách dịch nguyên văn sách cờ Tướng nước ngoài. Người ta có cảm tưởng rằng tuy được in bằng tiếng Việt Nam hẳn hoi nhưng muốn hiểu được thì phải đi học thêm vài năm tiếng Hán. Thật vậy, trong các sách này la liệt những từ Hán-Việt mà chỉ trừ những quốc tế đại sư và những nhà nghiên cứu hàn lâm ra thì mấy ai hiểu được ý nghĩa của nó như thế nào, nhất là các cháu học sinh bây giờ thì lại càng mù tịt ngôn ngữ Hán học, càng xem càng ù tai. Này nhé: [i]”Thuận Pháo trực Xa phi biên Tượng đối song hoành Xa lý Mã”, “Thuận Pháo trực Xa bổ hữu Sĩ đối song hoành Xa biên Mã”[/i]… Nhiều cháu nghe xong ngơ ngác và ngay cả các thầy cờ dưới 50 tuổi cũng lắc đầu chịu sầu không giải thích nổi nó là cái trận gì. Hậu quả tất yếu là những quyển sách có nội dung rất hay, rất cần thiết đó không thể vào đầu người đọc và suy ra không nâng cao được phong trào cờ Tướng trong lớp trẻ. Dĩ nhiên đây là nói lớp trẻ muốn thi đấu có thành tích và muốn đạt đẳng cấp cao, bởi đối với họ lý thuyết mới về cờ Tướng là rất quan trọng, trong lúc các lý thuyết phần lớn xuất phát từ các sách báo của Trung Quốc.
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào biến ngôn ngữ Hán thành ra ngôn ngữ Việt để người đọc dễ hiểu. Trước đây ông bà ta dạy con cháu đánh cờ cũng đã từng Việt hóa một số như [i]”Pháo đầu, Mã đội, Xe đâm thọc”, “Tốt nhập cung Tướng khốn cùng”[/i],… nhưng đó chỉ mang tính kinh nghiệm và một số tình huốn hiển nhiên cụ thể.
Nếu như trong cờ Vua, việc Việt hóa đã được tiến hành, các kiểu khai cuộc, các biến đã được đặt tên ngắn gọn, mã hóa, các từ ngữ được bình dân như [i]”lên Tượng nách”, “đường mở”, “Tốt chồng”[/i]… thì bên cờ Tướng dù đã có những quyển sách biên soạn công phu và cố gắng Việt hóa thì phần lớn vẫn cứ dùng [i]”tung hoành”[/i] mà đáng lẽ có thể dùng chữ Việt [i]”ngang dọc”[/i] hay [i]”tả, hữu”[/i] mà đơn giản là [i]”trái, phải”[/i] hay [i]”trung Pháo”, “quá hà Xa”[/i] mà lẽ ra có thể nói [i]”Pháo giữa”, “Xe vượt sông”[/i]…
Sau khi đã thống nhất Luật cờ Tướng trong cả nước, thiết tưởng nay cũng nên có một ban chuyên môn, hay chí ít cũng một nhóm chuyên gia nào đó đề xuất ra những cách phiên âm tiếng Việt hợp lý những từ Hán trong cờ Tướng. Việc này đòi hỏi nhiều công sức và phải có trình độ học thuật, vừa phải có óc khoa học, vì có những trường hợp phải thay cả cụm từ khai cuộc dài dằng dặc như nói trên thành một cụm từ ngắn gọn, hay nói một cách khác là có hẳn một bẳng mã hóa qui chuẩn cờ Tướng và phiên âm thành chữ Việt phổ thông.
Cờ Tướng xuất phát từ Trung Hoa, nên nói chữ Hán dài đến mấy người Trung Hoa vẫn hiểu, nhưng chỉ vài ba từ xa lạ là lớp trẻ Việt Nam sẽ tắc tịt ngay, ví dụ chữ [i]”Thủy để”[/i] có mấy người biết đó là “đáy nước”, có người còn phiên ra cho hình tượng hơn [i]”đáy biển mò trăng”[/i], nhưng mấy ai hiểu đó là cái gì, tuy rằng chữ này nhằm chỉ những đòn ở hàng cuối bên đối phương (luồn Pháo xuống phía sau hay hỗ trợ cho Tốt lụt đánh vào Tướng), hay như [i]”quải giác”, “ngọa tào”, “khí”[/i] nếu không giảng giải thì học trò đọc vào cũng hỡi ôi (mà phần lớn các sách đều không có giải nghĩa, cứ coi người đọc như những “nhà nho” uyên thâm sẵn rồi).
Đây chỉ là những yêu cầu thực tế và cần thiết. Ai sẽ đáp ứng việc này đây?
Liên công và phối hợp quân lực
- Lý Canh, Dương Điển
- 15/10/2005
- 0
[img]xq128-0.jpg;right;Đội quân đất nung trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng[/img]Cờ Tướng vốn phát nguyên từ chiến tranh, cho nên tìm hiểu về sự phối hợp các binh chủng khác nhau để chiến đấu trong chiến tranh thời cổ đại rất có ích cho việc nghiên cứu chiến thuật cờ Tướng cũng như lịch sử của nó. Ngược dòng lịch sử, từ thời Xuân-Thu chiến đấu chủ yếu là Xa chiến (Xe đánh trận) tức là các loại Xa chiến do ngựa kéo. Như trong “Tả truyện” có ghi quân đội nước Tấn có hơn 700 chiến Xa các loại: dẫn, ương, bán. Trong các cuộc chiến đương thời, chủ lực của hai bên sử dụng là chiến Xa và bộ binh “giáp sĩ” theo Xe mà đánh, ngay cả Vua cũng cưỡi Xe tham gia chiến trận và truy kích quân địch (Tả truyện – Hoàn Công năm 28), cảnh chiến trường lúc bấy giờ là “Xe chạy quân đuổi”, đó chính là chiến thuật liên hợp đồng tác chiến giữa Xe và Sĩ Tốt.
Chiến Xa tung hoành trên bình nguyên rộng lớn rất thuận lợi nhưng khi gặp phải địa thế chật hẹp, quanh co lầy lội, rừng núi… thì Xe khó phát huy tác dụng lúc ấy thì bộ binh có thể dễ dàng vượt qua những chướng ngạy ấy. Cho nên đến thời Chiến quốc thì bộ binh dần dần phát triển mạnh hình thành một bộ phận chủ thể phối hợp với chiến Xa. Sự phát triển của kỵ binh cũng ngày càng lớn mạnh từ đời Triệu-Vũ Linh Vương, kỵ binh bắt đầu phối hợp với bộ binh trong chiến đấu, hình thành các chiến thuật hiệp đồng tác chiến giữa bộ binh, kỵ binh và chiến Xa (tức Xe Mã Tốt), các chiến thuật ấy càng lúc trở nên phức tạp, đa dạng.
Chúng ta đến nay vẫn gọi “đội ngũ” tức là theo “Châu lễ” thì “ngũ” là biên chế cơ bản của quân đội đời Châu. Sĩ binh xuất chinh thì cứ tổ chức năm người thành một “ngũ”. Trong “Quản Tử Tiểu Khuông” có ghi “Tốt ngũ chỉnh tề ở trong, quân chinh chỉnh tề ở ngoài”.
Năm người làm một ngũ là căn cứ vào liên công mà đặt ra, con số năm vốn là con số mạnh (?) nhưng quan trọng hơn là do nhu cầu chiến thuật phối hợp các loại binh khí, năm người với năm loại binh khí phối hợp tác chiến gọi là “ngũ binh”. “Ngũ binh” lại chia làm “Xa binh” và “bộ binh”. Năm loại binh khí của Xa binh là mâu, dáo, dài, kích, đòng (theo “Khảo công ký” và “Tư mã pháp”). Trừ Pháo ra thì Xe Mã Tốt trong cờ Tướng là phù hợp với các binh chủng trong chiến tranh cổ đại, đặc biệt năm Tốt phù hợp với tổ chức “đội ngũ” lúc ấy. Sau khi có sự xuất hiện của Pháo trong chiến tranh thì trong cờ Tướng cũng có “Pháo” làm cho sự tiến công trong cờ càng thêm phức tạp, huyền diệu và đa dạng.
[img]xq128-1.jpg;center;Chiến Xa cổ đại[/img]Sự phối hợp tác chiến của các quân cờ trong cờ Tướng là rất đa dạng, không thể kể hết. Chẳng hạn năm Tốt liên công thì thành thế “ngũ Tốt Cầm Vương”. Xe Mã liên công thì thành “Xa Mã lãnh chiêu” khiến đối phương khó lòng chống đỡ. Xe Pháo liên công hình thành “Hiệp Xa Pháo”, “Cổn địa Pháo” là những sát thế có uy lực dũng mãnh; Xa Tốt liên công gọi là “Trường đoản Xa” sức công sát rất mạnh lại không sợ đổi quân hy sinh. Mã Tốt, Pháo Tốt, Mã Pháo Tốt liên công thiên biến vạn hóa không sao kể hết.
Nhà quân sự phải trải qua nhiều khó khăn gian khổ nghiên cứu binh pháp, dựa vào quy luật chiến tranh để từ đó có những sáng tạo độc đáo giành được thắng lợi huy hoàng. Kỳ thủ cũng vậy, phải ra sức tìm hiểu nắm bắt các phép vận dụng quân lực để tạo ra những sát chiêu tinh diệu, bất ngờ chế thắng. Từ xưa đến nay các nhà thơ thường ca ngợi cơ trí và linh diệu của con người. Xuất kỳ chế thắng cũng giống như tướng soái lập được kỳ công trong chiến trận. Tào Thực viết “Cơ Xảo hốt nhược Thần”. Trong đấu cờ, sự dụng chiến thuật độc đáo, chiêu pháp tinh diệu mà thắng cuộc tạo cảm giác ngọt ngào như được uống dòng cam lộ, thoải mái nhẹ nhàng, niềm vui không thể tả, thật là một sự hưởng thu nghệ thuật vượt ngoài thế tục!
[b]Ghi chú:[/b]
Đây là phần dẫn nhập của quyển sách “Cờ Tướng tàn cuộc Vô địch thủ”, tập 1.