Thấy chồng vừa về, vợ liền hỏi:
– Anh đi đâu về?
– Anh đi chơi cờ Tướng.
– Sao người anh lại nồng nặc mùi rượu thế?
– Vậy chẳng lẽ người anh lại nồng nặc mùi… Cờ Tướng?
Related Posts
Qui ước và ký hiệu truyền thống để ghi chép ván cờ
- Bạn Cờ
- 04/09/2005
- 0
[b]Mầu quân và bàn cờ[/b]
[img]xq39-0.jpg;right;Hình 1[/img]Dù trong thực tế quân cờ mầu gì và ai đi trước thì trong biên bản cũng chuyển thành mầu Trắng và Đen. Trắng luôn ở phía dưới, Đen luôn ở phía trên bàn cờ. Trừ cờ thế ra thì Trắng luôn là người đi trước (đi tiên), Đen luôn là người đi sau (đi hậu).
Ví dụ với hình 1, bên Đỏ được gọi chuẩn lại thành bên Trắng, Xanh thành Đen.
[b]Các quân cờ và chữ viết tắt[/b]
*Tướng – Tg
*Sĩ – S
*Tượng – T
*Xe – X
*Pháo – P
*Mã – M
*Binh – B
[i]Quân Binh còn thường được gọi là Tốt hoặc Chốt (ký hiệu là C).[/i]
[b]Cột:[/b]
Đặc điểm của ghi chép cờ Tướng là căn cứ vào cột và không tính tới hàng. Các cột được đánh số theo bên và chiều từ phải sang trái.
Trên hình 1, chuỗi số trên cùng chính là số cột đối với bên Xanh (Đen), chuỗi số dưới cùng là số cột của bên Đỏ (Trắng).
Khi đi một quân, người ta cần chỉ ra quân nào sẽ đi, đi theo hướng nào và đi đến đâu.
[b]Vị trí quân trên bàn cờ[/b]
Khi nói về một quân nào đó trên bàn cờ, người ta chỉ ra nó bằng cách gọi tên quân và tên cột nó đứng.
Ví dụ với hình 1, bên Trắng có ba quân được chỉ ra như sau:
*Tướng 5
*Xe 5
*Pháo 7
Bên Xanh có hai quân trên cùng một cột:
*Tướng 6
*Xe 6
[b]Vị trí khi có nhập nhằng[/b]
Đôi khi có vài quân cùng loại của một bên đứng trên cùng một cột. Khi đó chỉ gọi cột không thì không đủ để biết đó là quân nào. Người ta dùng thêm vị trí tương đối nữa, bao gồm:
*Trước – t
*Giữa – g
*Sau – s
[img]xq39-1.jpg;right;Hình 2[/img]Ví dụ Hình 2 minh họa một loạt quân nhập nhằng.
[b]Lưu ý:[/b]
*Các vị trí tương đối này tùy thuộc vào bên. “Trước” của quân Trắng là quân ở phía trên bàn cờ nhất, trong khi đó, “trước” của bên Đen lại là quân cờ bên dưới nhất.
*Bình thường chỉ có hai vị trí “trước” và “sau” được dùng. Vị trí giữa được dùng khi có 3 quân Tốt của một bên nằm trên cùng một cột và chỉ con Tốt giữa. Cách ghi cổ điển không đặt ra trường hợp 4 hoặc 5 Tốt ở cùng cột (Tổ chức Liên Đoàn cờ Tướng Thế giới có đề xuất cách cải tiến – chúng tôi sẽ đề cập trong một tài liệu khác).
[b]Hướng đi quân[/b]
Đối với các quân đi thẳng (Tướng, Xe, Pháo, Binh), người ta dùng các hướng cơ bản:
*Tấn (tiến): . (dấu chấm)
*Thoái (lui): /
*Bình (đi ngang): –
Đối với các quân đi chéo (Sĩ, Tượng, Mã) người ta chỉ dùng hai hướng Tiến và Thoái
[b]Vị trí đến[/b]
Đối với các quân đi thẳng, và hướng đi ngang (bình), người ta chỉ ra vị trí cột mà chúng đi đến. Còn đối với hướng tiến hoặc thoái người ta không chỉ ra vị trí đến trực tiếp mà đưa ra số ô mà các quân này sẽ vượt qua.
Đối với các quân đi chéo người ta chỉ ra vị trí cột mà chúng đi đến.
[b]Ví dụ[/b]
Từ Hình 1 để Xe Trắng chiếu Tướng đối phương, cần đẩy nó lên phía trước qua 3 ô. Người ta ghi:
[i]Xe 5 tiến 3[/i]
Quân Tướng Đen phải chống đỡ bằng nước duy nhất là tiến lên một ô:
[i]Tướng 6 tiến 1[/i]
Tiếp theo, quân Pháo Trắng đã rộng đường và có thể tạt sang bên phải đến cột thứ 2 (mục đích là sẽ xuống dưới Tướng Đen, đuổi Xe Đen khỏi cột 6, giúp Xe Trắng kéo về chiếu hết):
[i]Pháo 7 bình 2[/i]
Xe Đen cố gắng truy sát quân Pháo này bằng cách lui về 3 hàng:
[i]Xe 6 thoái 3[/i]
Bây giờ người ta có thể dùng toàn ký hiệu để cho gọn hơn và thêm đánh số các nước đi. Thường người ta tính khi cả hai bên đi xong một lượt là một nước, bên Trắng ghi cột trước, bên Đen ghi cột sau:
[code]1) X5.3 Tg6.1
2) P7-2 X6/3[/code]
Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương đông (10)
- Amin
- 24/03/2006
- 0
Ở Trung Quốc xưa kia có những người làm nghề kể chuyện rong. Họ đi khắp các thị thành, kể những tích truyện nổi tiếng như “Tam Quốc”, “Thủy hử”, “Tây du ký”… Hàng nghìn hàng vạn thị dân không biết chữ, không đọc được sách đã xúm đen xúm đỏ nghe họ kể không biết chán và cho họ những đồng tiền lẻ. Những người kể chuyện sống bằng nghề của mình.
Còn ở cờ Tướng, những tay cờ tài hoa vượt núi băng sông tìm người tỷ thí, biểu diễn tài nghệ của mình trước gần dân thiên hạ, được người đời gọi là những tay cờ giang hồ (chữ giang hồ nghĩa là sông hồ, chỉ sự phiêu bạt).
Trong lịch sử cờ Tướng ngót một nghìn năm qua, có biết bao tay cờ giang hồ nổi tiếng trong thiên hạ, đến nay tên tuổi vẫn còn lưu truyền khắp dân gian nhu Dương Kim Đình, Sách Vạn Niên, Tăng Triển Hồng. Chu Hán Văn, Chu Đức Dụ, Tăng ích Khiêm. Vương đạo Nhiên, Trương Cẩm Vinh, Hoàng Tùng Hiên, Chung Trân, Lương Triệu Phát, Phùng Kính Như, Lý Chí Hải… Tứ đó xuất hiện những danh hiệu được quần chúng hâm mộ cờ tấn phong như “Bát tỉnh kỳ vương”, “Hoa Nam tử đại thiên vương”, “Dương Châu tam kiệt”, “Việt Đông tam phượng”, “Đông Nam Á kỳ vương”… Những tay cờ giang hồ không phải chỉ giang hồ một đời mà nhiều khi kéo dài ba, bốn kế hệ, những “quát kiệt giang hồ” xuất chúng như cha con Chu Hoán Văn, Chu Đức Dụ hay dòng họ Tăng Triển Hồng, Tăng ích Khiêm… Thêm nữa, khi những tay cờ giang hồ lỗi lạc tiếng tăm được tôn vinh thì kỳ thủ trong thiên hạ nô nức kéo tới tôn làm sư phụ, trong số ấy thế nào cũng có một số đệ tử chân truyền, tạo ra những trường phái cờ Tướng khét tiếng trong một tỉnh hay trong một vùng. Nếu ta biết rằng một tỉnh của Trung Quốc dân số lên tới một trăm hay hơn trăm triệu người, thì mới thấy uy tín của họ lớn tới mức nào. Những trường phái này luôn tìm cách thách đố và tỷ thí với trướng phái kia, tạo ra những trận đối đầu nổi tiếng trong lịch sử mà không chỉ tên tuổi của các bậc đại cao thủ thêm lừng lẫy mà cả tên tuổi của các nhà bảo trợ, nhà tổ chức, địa điểm thi đấu cũng đi vào lịch sử. Những trận cờ giang hồ tuy quyết liệt và sôi động như thế nhưng lại mang nét văn hóa và nho nhã rất cao, người ta gọi đó là những bậc đại danh kỳ, đại quân tử, đấu trí chứ không đấu sức. Nó khác hẳn những cuộc đấu võ trên các “đả lôi đài” thường thấy thời xưa, các tay võ biền quật nhau chí tử để rồi thương tích đầy mình hoặc nuôi thù chuốc oán từ đời này sang đời kia. Ở cờ Tướng hoàn toàn ngược lại, những ván đánh nảy lửa không hề khoan nhượng trên bàn cờ chỉ khiến những người tỷ thí càng khâm phục, trọng nể nhau hơn và quan hệ với nhau càng lâu bền hơn.
Thưởng thức những nước cờ hay của đối thủ là một trong những cái thú nhất của làng cờ giang hồ. Đi nghìn dặm mới có được một ván hay. Những nước đi quỷ khốc thần sầu được tất cả các bên ghi chép lại cẩn thận, truyền cho nhau như một món quà quý. Sau mỗi trận tỷ thí cả người thắng lẫn kẻ thua thường kết bạn với nhau. Mối thâm giao như thế kéo dài suốt cả đời. Ai cũng muốn tìm đối thủ cao hơn mình để mà chơi, “anh hùng gặp anh hùng”? Thực ra trong làng cờ giang hồ không phải không có những tay cờ cay cú, lấy ăn thua làm mục đích, không phải không có những mối hận. Nhưng làng cờ giang hồ đích thực không chấp nhận chuyện đó, coi đó là những kẻ tiểu nhân. Nó xa lạ với những bậc cao nhân. Trong cờ Tướng chữ “quân tử” cũng rất quan trọng và có ý nghĩa rất sâu xa. Đất phát đạt nhất cho cờ Tướng giang hồ là ở Trung Quốc, trong đó nổi bật phải kể tới các tỉnh Quảng Đông, Giang Tô, Thượng Hải, Hà Bắc, Bắc Kinh, Triết Giang, Hồng Kông, Đài Loan, Áo Môn…
Khi đã có tiếng tăm và có được ít nhiều tiền bạc trong tay, các cao thủ giang hồ bắt đầu những chuyến chu du thiên hạ, họ tới các nước lân cận, có khi đi hàng năm không về. Về sau đi mãi thành quen, không đi không chịu được. Đi để đánh cờ, đi để giao hảo. Làng cờ giang hồ cứ thế phát triển rộng mãi ra. Trong số các nước họ hay đến và đến nhiều lần phải kế tới Philippin, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan, Úc… là những nới có đông đảo người chơi cờ và ở đó cộng đồng người Hoa cũng khá đông đúc. Nhật Bản và Hàn Quốc ít hơn vì ở đó có cờ Vây ngự trị.
Họ đi khắp các nước có cờ Tướng, mở những cuộc thách đấu với các kỳ thủ nước chủ nhà, có những trận tỷ thí long đời lở đất mà lịch sử hàng trăm năm vẫn còn ghi. Ngày xưa khi chưa có các giải cờ Tướng quốc tế, chưa có các Hiệp hội cờ Tướng quốc gia như bây giờ thì những cuộc tỷ thí như vậy chính là những trận đấu quốc tế danh giá nhất. Nhờ những trận tỷ thí tay đôi, tay tư của những bậc đai cao thủ giang hổ như thế mà môn cờ Tướng có tiếng vang như sóng cồn biển cả với biết bao huyền thoại, giai thoại kể mãi không hết từ đời này đến đời kia (xin xem thêm quyển “Cờ Tướng: Sự tích, Thú chơi, Giai thoại”).
Ngày nay việc đi lại giữa các nước thật dễ dàng và thông suốt, phương tiện giao thông thuận lợi, nhanh chóng, điều kiện lưu trú ăn ở cũng hơn rất nhiều so với xưa. Xưa kia những chuyến đi như thế thường rất vất vả: đi thuyền nhiều khi gặp bão tố hay cướp biển, đi bộ phải qua núi cao đèo vắng, nguy hiểm và bệnh tật luôn rình rập, đó là chưa kể giữa các nước Á châu hay xảy ra chiến tranh hay nội chiến liên miên cùng với những sự cấm đoán ngặt nghèo, giấy tờ khắt khe.
Tuy nhiên cũng đã có những tay cờ giang hồ danh tiếng quốc tế đã từng tới Việt Nam. Đến miền Nam có Chung Trân, Tăng Triển Hồng, Triệu Khôn, Lý Chí Hải, Lê Huệ Đông… Ở phía Bắc, nhất là các tỉnh vùng biên giới cũng từng có nhiều danh thủ Quảng Đông sang thi đấu, nhiều danh kỳ Hà Nội hay đáp tàu lên Lạng Sơn chơi.
Những tay cờ như thế khuấy đảo cả phong trào cờ của một quốc gia. Những trận đấu của họ được tuyên truyền quảng cáo rầm rộ khiến cho kẻ giàu đua nhau chung tiền chia thành nhóm, thành phe ủng hộ cho người “của mình”, kẻ ham cờ thì suốt đêm ngày chầu chực để thưởng thức, ráng nhớ, ráng ghi chép để “học lỏm” những tuyệt chiêu. Những tên tuổi giang hồ nhiều lúc trở thành thần thoại, đến nỗi có ai thắng họ được một ván thôi cũng đủ được tôn vinh cả một đời. Một số danh kỳ Việt Nam cũng đã có được cái vinh quang đó. Gặp nhau một lần lại hẹn năm sau sang đánh tiếp để “phục hận”, những pha gay cấn như thế kích thích làng cờ bản địa ghê gớm, khiến chỉ một năm sau thôi, kỳ nghệ của các bên đều tiến một bước dài. Đó chính là tác dụng tuyệt vời nhất của cờ Tướng giang hồ.
Vây nói cho cùng, đâu là điểm xuất phát, đâu là cốt lõi của cờ Tướng giang hồ? Ngày nay trong thể thao người ta chia ra làm hai dạng thể thao: thể thao quần chúng (phong trào) và thể thao thành tích cao (thể thao mũi nhọn). Cờ Tướng giang hồ chính là thể thao đỉnh cao trong cờ Tướng. Tất cả các tay cờ giang hồ không thể là những tay cờ tầm thường, xoàng xĩnh mà đều là bậc cao thủ, đúng hơn là những bậc đại cao thủ. Làng cờ giang hồ không cho phép tồn tại những tay cờ thuộc lớp “chiếu dưới”. Tất cả phải được thể hiện trên bàn cờ. Những loại “võ mồm” mau chóng bị gạt ra rìa, chỉ những tinh hoa, được sàng lọc khắc nghiệt mới tồn tại. Cơm áo sinh ra từ bàn cờ, tiền bạc, vinh quang cũng có được từ những ván cờ. Muốn thế, tài nghệ của họ phải được giới giang hồ và người hâm mộ công nhận, những ván cờ của họ phải trở thành tác phẩm nghệ thuật thật sự, thường là được đưa vào các “phổ” hay các “quyển”. Khi đấu họ chọn những cao thủ từ ngang tầm mình trở lên, thấp hơn họ có quyền từ chối, vì như thế dù thắng cũng làm sứt mẻ uy tín, tổn thương danh dự của họ.
Chính nhờ những ván cờ với những tuyệt chiêu như vậy mà thiên hạ và các nhà bảo trợ (thường là những thương gia giàu có, những Mạnh Thường Quân trong giới quý tộc…) hào hứng bỏ tiền đặt giải thưởng. Đánh càng hay, thắng càng nhiều thì số tiền thưởng càng tăng vọt.
Và chỉ khi có những khoản tiến rủng rỉnh trong túi họ mới có cơ may đi du ngoạn sang các nước khác, một mặt biểu diễn tài nghệ, gây thanh thế cho mình, đồng thời kiểm nghiệm những lý thuyết mới mà mình tự khám phá ra. Mặt khác thâu tóm thêm hàng loạt các bí quyết của các đối thủ ở các nước lân cận. Có điều đáng chú ý là các tay cờ giang hồ quốc tế thường chỉ đi một mình theo kiểu “đơn thương độc mã”, không mấy dắt theo bầu đàn thê tử, thậm chí cả các đệ tử ruột họ cũng ít cho theo. Thật ra ai cũng biết cờ là môn không bao giờ chơi đồng đội, cờ là thế giới riêng của từng cá nhân đơn lẻ, khác hẳn với các môn thể thao khác như bóng đá, bơi thuyền… Lý do thông thường họ hay đi một mình là để gọn nhẹ, thích thì ở, không hửng thú thì đi, thoắt ẩn thoắt hiện như thế hợp với bản tính giang hồ của họ hơn.
Nhưng không phải giang hồ chỉ có một loại đích thực đánh để lấy danh hay lấy tiếng một cách “hợp pháp” như vậy. Còn có loại thứ hai là các tay cờ giang hồ không trống giong cờ mở như trên, mà âm thầm hơn, nghĩa là chỉ chú trọng vào việc mưu sinh. Họ vừa đi du ngoạn vừa kiếm sống, tức là đánh sao cốt kiếm tiền. Làng cờ cũng vẫn chấp nhận họ, bởi vì như ta cũng là sòng phẳng, đường hoàng. Trình độ của họ rất cao, nhưng họ ít khi ra mặt mà cứ tẩm ngẩm tầm ngầm, nhưng khi đối thủ nhận ra được thì túi đã nhẵn mất rồi.
Tuy nhiên cái gì cũng có thêm mặt trái của nó. Đó là loại thứ ba gồm những tay cờ giang hồ giả danh. Mục đích của họ chỉ là trổ các mánh khóe nhằm “móc túi” thiên hạ. Thường họ dẫn theo một đám tiểu yêu hay lâu la, gọi là các đệ tử hay nôm na là đám “cò mồi”. Đám cò mồi có 2 nhiệm vụ: một là khuếch trương thanh thế của “sưu phụ” để khiêu khích kẻ hiếu danh hoặc che đậy tiếng tăm của sư phụ để kẻ ngây thơ sa bẫy. Thứ hai là giúp thầy trong trò cờ gian bạc lận, nhử đối phương vào tròng hay tính kế đánh tháo khi “sư phụ” bị đối thủ cho đại bại. Đã từng có lắm kẻ bị những đòn choáng váng, khuynh gia bại sản chỉ vì máu mê ăn thua với những tay cờ giang hồ gian giảo loại này.
Vì sao khó thay đổi?
- Kỳ lão Ngọc Quỳnh
- 11/01/2006
- 0
Nói cho đúng ra thì có nhiều lần người ta muốn đổi và thử đổi: ở một số giải người ta đã cho công bố các quân cờ có dạng hình vẽ như Mã hình đầu ngựa, Pháo có hình khẩu thần công…, các nhà sản xuất quân cờ Tướng đã có lúc rục rịch cho ra đời một bộ quân cờ theo kiểu cờ Vua cải biên. Thế nhưng rồi “đâu lại hoàn đấy”: các giải trong từng quốc gia cũng như các giải thế giới toàn chơi bằng các quân cờ truyền thống toàn bằng chữ Hán: Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt… quen thuộc.
[img]xq1-0.jpg;center[/img]
Vì sao vậy?
Tôi thiết nghĩ phải chăng thói quen đã ăn sâu vào đầu óc những người chơi cờ, khiến người ta không thể nào tiếp nhận một sự cải tiến hoặc cải cách?
Cũng có thể đối với người Á Đông thì các suy nghĩ có phần sâu sắc hơn: đã cải cách thì chủ yếu ở nội dung chứ không phải ở hình thức. Nếu chỉ cải cách ở hình thức mà không cải cách ở nội dung thì cải cách đó cũng không cần thiết lắm.
Quân cờ truyền thống có cái tiện của nó: không “cồng kềnh” như cờ Vua, mà lại rất giản dị, dễ làm, dễ xếp cất, dễ mang đi lại, hỏng dễ thay, dễ làm lại… khiến nó bình dân, gần gũi với mọi người.
Nhưng cũng có thể đó là sự tự hào sâu xa của một nền văn hóa phương Đông: muốn có một cái gì đó mang dấu ấn của riêng mình, không muốn có sự lai căng bắt chước bên ngoài. Bởi xét cho cùng cờ Tướng cũng có cái hay, cũng hấp dẫn không kém cờ Vua hay cờ Vây.
Có nên thay đổi hay không?