[b]Ván 5: TỨ PHƯƠNG TRẬN[/b]
Trắng đi trước thắng.
[game solutionday=7]
FORMAT WXF
GAME TỨ PHƯƠNG TRẬN
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
FEN 9/9/1HPakaRP1/1C5P1/1P5H1/1c5h1/1p5p1/1p5r1/1rhKAppc1/9 w – – – 1
START{
DIAG{ #1 RED }
1. B7-6 Tg5/1 2. X3.1 Tg5/1
3. X3.1 Tg5.1 4. B6.1 Tg5-6
5. P8-4 S6/5 6. B6-5 Tg6-5
7. M8.7 Tg5-6 8. M7/6 Tg6-5
9. X3-5 Tg5-4 10. P4-6 Tg4.1
11. M2.4 Tg4/1 12. X5/1
/*Cũng có thể chơi X5-6 phế quân đẹp hơn*/
12. … Tg4/1
13. M4.6 }END[/game]
Related Posts
Giai thoại làng cờ: Trềnh hay Trịnh?
- Bạn Cờ
- 26/03/2006
- 0
Tuy nhiên họ của anh lại không rõ ràng. Một số báo chí, trang web ghi là Trịnh, một số khác lại ghi là là Trềnh, một số nữa lại dùng cả hai. Nhiều người người cho rằng Trềnh là viết sai vì ở Việt Nam không có cái họ lạ lùng như thế. Nhưng tại sao sai mà vẫn rất phổ biến, không báo nào phải cải chính lại?
Bạn Cờ đã đem điều thắc mắc này hỏi một trong những chuyên gia am hiểu trong làng cờ thì được giải thích như sau:
Trịnh là họ đúng, Trềnh là viết sai. Căn nguyên của việc viết sai là khi lần đầu tiên Trịnh A Sáng xuất cảnh tham gia các giải cờ Thế giới thì người ta do nhầm font mà chữ Trịnh bị in vào hộ chiếu thành chữ Trềnh. Lúc đó do quá sát ngày đi nên A Sáng cuống, cầm luôn hộ chiếu này đi mà không sửa. Từ đó bạn bè quốc tế hầu như chỉ biết đến “Trềnh A Sáng” cao thủ của Việt Nam mà không biết tới “Trịnh A Sáng”. Đa số báo chí và các trang web nước ngoài dùng họ Trềnh. Cũng từ đó báo chí trong nước thường viết lẫn lộn họ cho anh.
A Sáng hình như cũng chẳng quan tâm lắm đến việc thiên hạ gọi nhầm họ của mình. Ở nhà và bạn bè thường gọi kỳ thủ gốc Hoa này bằng cái tên quen thuộc “Hà Chảy”.
Tin ngày 19/10 – Giải Vô địch cá nhân cờ Tướng châu Á 2005
- Bạn Cờ
- 19/10/2005
- 0
Giải Vô địch cá nhân cờ Tướng châu Á (Asian Xiangqi Individual Championships – AXIC; trước đây có tên là Các danh thủ cờ Tướng châu Á – Asian Xiangqi Masters Invitation Tournament) năm 2005 đã diễn ra từ ngày 12/10/2005 đến ngày 18/10/2005, tại khách sạn Century Park, thủ đô Manila của Philippines. Tham dự bao gồm 18 kỳ thủ nam và 7 nữ, đến từ các nước Úc, Brunei, Burma, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Macao, Mayalsia(Đông), Malaysia(Tây), Singapore, Đài Loan, Thái land, Việt Nam và nước chủ nhà Philippines
Việt Nam tham gia giải với ba kỳ thủ bao gồm Võ Văn Hoàng Tùng, Trần Văn Ninh (bảng nam) và Hoàng Thị Hải Bình (bảng nữ). Kết thúc giải, ở bảng nam Trần Văn Ninh đứng thứ tư, Võ Văn Hoàng Tùng đứng thứ năm. Trong khi đó bên bảng nữ Hoàng Thị Hải Bình đứng thứ hai giành cúp bạc.
Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức giải này vào năm 2006.
Dưới đây là một số hình ảnh các kỳ thủ Việt nam tại giải (ảnh của Felix Tan):
[img]xq155-0.jpg;center;Một công viên của Manila[/img]
[img]xq155-1.jpg;center;Trần Văn Ninh (trái) đấu với Jiang Chuan trận tứ kết[/img]
[img]xq155-2.jpg;center;Lei Kum Fun và Võ Văn Hoàng Tùng (phải)[/img]
[img]xq155-3.jpg;center;Trần Văn Ninh nhận giải tư[/img]
[img]xq155-4.jpg;center;Võ Văn Hoàng Tùng nhận giải năm[/img]
[img]xq155-5.jpg;center;Hoàng Thị Hải Bình nhận cúp bạc[/img]
Cờ Tướng Nhập Môn: Chương 1 – Bàn cờ, quân cờ và luật chơi (2)
- Quách Anh Tú, Lê Thiên Vị
- 26/09/2005
- 0
Quân cờ
Quân cờ được phân chia thành hai bên đối nghịch nhau. Khi bắt đầu ván cờ, mỗi bên có 16 quân cùng mầu, bao gồm các loại binh chủng như sau: 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Mã, 2 Xe, 2 Pháo và 5 Tốt. Do Cờ Tướng bắt nguồn từ Trung Quốc nên các quân cờ được viết bằng chữ Hán để phân biệt nhau. Hình các quân cờ như dưới.( Chú ý là quân hai bên tuy cùng loại nhưng hình lại hơi khác nhau, chỉ có Xe và Mã là giống mà thôi).
[img]xq81-0.gif;center;[/img]
[b]Vị trí các quân cờ khi bắt đầu ván cờ[/b]
Trước hết cần nói rõ: mỗi quân cờ chỉ đặt trên một giao điểm hay một giao điểm chỉ được đặt một quân cờ mà thôi.
Khi bắt đầu ván cờ, các quân được bố trí theo một thế cờ ban đầu như hình dưới. Chúng ta thấy, hai Tướng đứng chính giữa ngay trên đường dọc số 5. Đường dọc này người ta gọi là trung lộ hay trung tuyến.
Thế bố trí quân ban đầu hoàn toàn đối xứng nhau giữa quân hai bên và giữa cánh phải và cánh trái.
[img]xq81-1.gif;center;[/img]
Qui ước chữ viết tắt và cách gọi tên vị trí các quân
Người ta thường dùng các chữ viết tắt để chỉ các quân, nhất là khi viết sách cờ hay tài liệu về cờ, đặc biệt là dùng dùng để ghi chép biên bản. Qui ước như sau:
[b]Quân cờ[/b]
| Quân cờ | Viết tắt |
| Tướng | Tg |
| Sĩ | S |
| Tượng | T |
| Xe | X |
| Pháo | P |
| Mã | M |
| Tốt (Binh) | B |
[b]Cách gọi tên vị trí các quân[/b]
Do các quân cờ mỗi bên (trừ Tướng) thường có từ hai trở lên (Tốt có 5 quân) nên để phân biệt các quân cờ với nhau ngoài tên của nó còn phải thêm vị trí đứng của nó, chủ yếu là tên các đường dọc để xác định chính xác là quân cờ nào. Ví dụ, Xe 7 là ý nói về quân Xe đang đứng trên lộ 7. Do không sợ nhầm Tướng với quân khác nên không cần phải thêm tên cột cho nó.
Nếu các quân cùng loại lại đứng trên cùng một lộ (cột) thì để phân biệt chúng với nhau còn phải dùng các từ trước, giữa, sau để phân biệt. Lúc này lại có thể bỏ tên cột đi được. Ví dụ Pháo sau để chỉ rằng hiện đang có hai quân Pháo đang đứng trên cùng một lộ và quân cần quan tâm là quân Pháo đứng sau. Chữ giữa chỉ dùng trong trường hợp có ba quân Tốt cùng trên một lộ và Tốt chỉ ra ở đây là Tốt gữa (trường hợp có 4 hoặc 5 Tốt một lộ có thể coi như không xẩy ra trong các ván cờ bình thường).
Khi ghi chép biên bản có thể dùng các chữ viết tắt như sau:
| Trước | t |
| Gữa | g |
| Sau | s |
Các quân cờ tuy đi theo những luật khác nhau nhưng chung qui chỉ có 3 dạng: Tiến, Thoái (đi lùi), Bình (đi ngang) và ký hiệu như sau:
| Tiến | . (dấu chấm) |
| Bình | – (dấu ngang) |
| Thoái | / (gạch chéo) |