[img maxheight=200 maxwidth=200 ]xq528-0.jpg;right;Đào Cao Khoa 1999 (ảnh Võ Tấn)[/img]Đào Cao Khoa đã giành được ngôi vô địch Cờ tướng quốc gia Việt Nam năm 1999. Anh cũng đã giành được danh hiệu Quốc Tế Đại Sư. Anh đoạt huy chương bạc đồng đội Giải cờ tướng châu Á năm 2004 tại Bắc Kinh.
Related Posts
Tin cờ 27/01/06: Phát hành CSDL ván cờ giải Vô địch quốc gia năm 2004, 2005
- Amin
- 27/01/2006
- 0
[img]xq363-0.jpg;right;[/img]Hôm nay (7/3/2006) Bạn cờ phát hành hai Cơ sở dữ liệu các ván cờ của giải Vô địch toàn quốc năm 2004 và 2005.
Các ván cờ do ông Nguyễn Phước Trung (ban chấp hành Liên đoàn cờ Việt Nam, liên đoàn cờ TpHCM) sưu tầm và gửi tặng đến những người yêu cờ. Đây là một món quà quí năm mới của ông Trung gửi đến các bạn yêu cờ. Bạn cờ xin phép thay mặt bạn yêu cờ gần xa cảm ơn ông Trung và chúc ông một năm mới an khang thịnh vượng.
Các bạn có thể download các CSDL này ở trang Download, xem bằng [topic id=285]chương trình XB[/topic], hoặc Xem trực tiếp (online).
*Download chương trình XB và các Cơ sở dữ liệu cờ
*Giải Vô địch Quốc gia 2004
*Giải Vô địch Quốc gia 2005
Súng thần công xưa nay
- Anh Chi
- 19/09/2005
- 0
[img]xq93-0.jpg;center;[/img]Tiền thân của súng thần công ở nước ta là những cỗ máy bắn đá. Một số thư tịch cổ có ghi: Vào năm 1076, thời nhà Lý, trong một trận đánh do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã dùng máy bắn đá công phá thành Ung Châu trên đất Tống. Máy bắn đá tiếp tục được quân đội các thời Trần, Hồ và Lê sử dụng. Cấu tạo của súng bắn đá dựa theo nguyên tắc sức bật của cần tre hoặc những dụng cụ tạo sức bật để bắn những viên đá vào mục tiêu. Đó là loại súng thô sơ, sức công phá còn rất hạn chế. Chỉ đến khi thuốc súng được dùng làm vũ khí, thì sức mạnh của nó mới ghê gớm.
Thời trung đại, người Trung Quốc có 4 phát minh quan trọng nhất thế giới: làm được giấy viết, tạo nên kỹ thuật in, khám phá ra kim chỉ nam và tìm ra thuốc súng. Riêng về thuốc súng, do sự ngẫu nhiên mà người ta phát minh được. Thời nhà Đường, Đạo giáo rất thịnh hành. Những người theo Đạo giáo tin rằng có thể luyện được thuốc trường sinh và luyện ra vàng, do vậy mà thuật luyện đan rất phổ biến. Những nhà luyện đan, luyện vàng hay dùng diêm tiêu, lưu huỳnh và than gỗ nên thường xảy ra các vụ cháy… Và, thật tình cờ, họ tìm ra hợp chất gây bùng cháy mạnh, chính là thuốc súng. Đến đầu thế kỷ X, thuốc súng được dùng làm vũ khí. Họ còn tạo ra tên lửa, quạt lửa, đạn bay…, nhưng chỉ có tác dụng đốt cháy doanh trại đối phương. Thời nhà Tống, người ta không ngừng cải tiến vũ khí dùng thuốc súng. Trong cuộc chiến tranh Tống-Kim, quân Tống đã có loại vũ khí mang tên “chấn thiên lôi” nổ vang như sấm và làm cháy rộng hơn nửa mẫu đất, đốt cháy cả người và da bò. Đến năm 1132, người Trung Quốc chế được loại vũ khí gọi là “hoả thương”, hình dáng như một chiếc ống. Thoạt đầu, hoả thương làm bằng những ống tre, trong lòng nạp thuốc súng, khi đánh nhau thì đốt ngòi, lửa phun ra thiêu đốt đối phương. Đến thế kỷ XIII, quân Nguyên Mông tấn công Trung Quốc, đã học được thuật chế thuốc súng. Khi đi chinh phục Tây Á, họ mang theo cả kỹ thuật chế thuốc súng. Tiếp nữa, người Ả Rập lại đem kỹ thuật chế thuốc súng sang Tây Ban Nha và châu Âu.
Đến đầu thế kỷ XV, kỹ thuật chế tạo súng có sự tiến bộ vượt bậc do công của người Việt Nam. Trong sách “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn có viết: “… Con trai của Hồ Quý Ly, là Hồ Nguyên Trừng, đã sáng tạo ra phương pháp làm súng “Thần cơ sang pháo”. Loại súng này được đúc bằng sắt hoặc đồng, có nhiều cỡ, lớn thì kéo bằng xe, nhỏ thì dùng giá gỗ hay vác vai…”. Năm 1406, nhà Minh sang xâm lược nước ta, bắt được cha con Hồ Quý Ly. Thấy Hồ Nguyên Trừng là người có tài về về kỹ thuật quân sự, người Minh đã biệt đãi, cử Hồ Nguyên Trừng làm quan, tới chức Thượng thư Bộ công. Phần “Binh chế khí” trong “Minh sử” có viết: Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo ra súng thần cơ, có ba loại lớn, nhỏ khác nhau. Súng lớn đặt trên lưng voi, súng nhỡ hai người khiêng, súng nhỏ vác vai. Khi có súng thần cơ, nhà Minh tổ chức biên chế lại quân đội cho phù hợp với vũ khí có sức mạnh lớn này. Mỗi lần ra trận có bắn thần cơ, người Minh đều làm lễ tế Hồ Nguyên Trừng. Bởi, Hồ Nguyên Trừng được coi là ông tổ của súng thần công Trung Quốc, và sau khi ông qua đời còn được vua Minh sắc phong làm “Thần hoả khí”. Thần cơ là vũ khí vô cùng lợi hại.
Cũng vào đầu thế kỷ XV, Pháp là nước đầu tiên ở châu Âu chế tạo được súng thần công bắn bằng sức đẩy của thuốc súng, làm những viên đạn bằng gang bay đi xa hơn và sức công phá vô cùng mạnh. Việc sử dụng súng thần công bắt đầu được phổ biến rộng rãi sang các quốc gia khác ở châu Âu. Ở Việt Nam, đến thế kỷ XVII, cuộc chiến tranh Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn đàng trong đều đua nhau mua súng thần công của các lái buôn châu Âu. Các chúa còn nhờ chuyên gia Hà Lan, Bồ Đào Nha hướng dẫn cho đúc súng thần công. Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn có ghi: “Ở luỹ Đồng Hới của chúa Nguyễn có các loại súng đạn chất như núi. Dọc theo tuyến phòng thủ ven biển Đà Nẵng, quân chúa Nguyễn có hàng trăm súng thần công… Đến năm 1786, quân Tây Sơn chiếm được Phú Xuân, thu được 1.200 khẩu thần công. Sau nữa, chiến dịch giải phóng kinh thành Thăng Long, quân Tây Sơn cũng đã thu được vô khối súng thần công của quân Trịnh. Sang thời nhà Nguyễn, đầu thế kỷ XIX, cùng những súng thần công đã có từ trước, các vua Nguyễn đã cho đúc thêm rất nhiều súng thần công, trang bị cho tất cả các thành. Chỉ riêng thành Gia Định, năm 1819, có 250 khẩu súng thần công bố trí trên mặt thành…”.
Có thể nói, súng thần công là một trong những loại vũ khí trọng yếu của quân đội nước ta thời trung đại. Nhưng, đến thời nhà Nguyễn, súng thần công không được cải tiến thêm về kỹ thuật, nên trở thành lạc hậu so với các loại pháo bắn đạn nổ mà các nước phương Tây đã làm được. Vậy là, cùng với quân Pháp, súng thần công đã chịu thúc thủ trước vũ khí hiện đại.
Ngày nay, ở một vài di tích thành cổ, ở các bảo tàng, còn thấy những khẩu súng thần công cũ kỹ. Đó là những khẩu súng từng qua trận mạc, như một kỷ niệm buồn còn lại. Duy có 9 khẩu thần công ở cố đô Huế mà người dân ở đây gọi là “Cửu vị thần công”, rất to lớn, oai vệ, nhưng từ khi ra đời đến nay chưa lần nào được khai hoả. Theo sách “Đại Nam thực lục”: Sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long đã cho gom số đồng thu được của nhà Tây Sơn đem đúc thành 9 khẩu súng lớn. Bốn vị đại thần là Nguyễn Văn Khiêm, Hoàng Văn Cẩn, Cái Văn Hiếu, Phan Tiến Cẩn và một số binh sỹ, thợ thuyền thuộc Bộ Binh và Bộ Công, tiến hành đúc súng từ tháng 2/1803 đến tháng 8/1804 thì hoàn thành. Các khẩu súng này được đặt tên theo “tứ thời” và “ngũ hành”. Mỗi khẩu dài 5,1 mét với đường kính miệng là 225 milimét, đặt trên một giá súng bằng gỗ lim có đai sắt rất vững chắc. Trọng lượng mỗi khẩu, kể cả giá súng, là 11.900kg. Súng được làm để trang hoàng cho Hoàng Thành thêm uy nghiêm, chứ chưa bao giờ dùng để bắn. Năm 1816, tên đặt cho bộ 9 khẩu súng này là: Thần Cai Vô Địch Thượng Tướng Quân.
Qua hai thế kỷ, dân Huế chỉ quen gọi cả bộ súng này là “Cửu vị thần công”. Bộ súng này có một giá trị lịch sử đặc biệt gắn liền với đời sống của người dân cố đô Huế. Gần đây, cùng với việc trùng tu, tôn tạo cố đô, 9 khẩu súng thần công cũng được phục chế những chỗ bị hư hại. Vậy là, từ những khẩu súng bắn đá, đến những “thần cơ” do Hồ Nguyên Trừng chế tạo và tới những súng thần công sau này, tất cả đã trở thành quá khứ. Chín khẩu súng thần công còn lại ở cố đô Huế, người ta đến chiêm ngưỡng và thấy ở nó một giá trị khác: Một bộ tác phẩm đúc đồng đồ sộ và có giá trị bậc nhất trong lịch sử đúc đồng Việt Nam!./.
Cờ Tướng Khai cuộc cẩm nang: Chương II Những nguyên tắc cơ bản trong khai cuộc (1)
- Trần Tấn Mỹ, Lê Thiên Vị, Phạm Tấn Hoà, Quách Anh Tú
- 17/04/2006
- 0
Chương II Những nguyên tắc cơ bản trong khai cuộc
Đi sâu tìm hiểu một số sách cổ thì thấy người xưa có dạy những nguyên tắc chơi cờ. Đó là những nguyên tắc chung chứ không nêu riêng cho phần khai cuộc. Chẳng hạn bài “Tượng dịch” của Lưu Khắc Trang thời Nam Tống (1187 – 1269) nêu nhiều nguyên tắc chơi cờ rất đáng chú ý, hoặc rõ nhất là “Mười bí quyết chơi cờ” nêu trong Sự lâm quảng ký (Phần “Nghệ văn loại”) của Trần Nguyên Tịnh cũng thời Nam Tống cho đến tận ngày nay nhiều điểm vẫn còn giữ nguyên giá trị. Thế nhưng nếu đem những nguyên tắc này áp dụng cho khai cuộc thì còn chung quá và nhiều điểm cũng không phù hợp.
Nay tổng kết kinh nghiệm của các danh thủ đương đại để vạch thành các nguyên tắc vận dụng cụ thể vào khai cuộc thì rõ ràng và phù hợp hơn. Có bẩy nguyên tắc cơ bản cần chú ý sau đây:
# Phải nhanh chóng triển khai toàn bộ quân chủ lực
# Phải hình thành một thế bố trí quân linh hoạt
# Phải sử dụng hợp lý các nước đi Tốt và Sĩ, Tượng
# Trong khai cuộc không nên sử dụng một quân đi nhiều lần
# Khi chưa triển khai đủ lực lượng thì không nên vội tấn công
# Không nên tham lợi nhỏ mà bị bẫy
# Phải tránh tình trạng các quân cản trở nhau
[b]I. Phải nhanh chóng triển khai toàn bộ quân chủ lực[/b]
Giai đoạn khai cuộc là giai đoạn ra quân, bố trí đội hình lực lượng để săụn sàng tấn công hay phòng thủ. Giai đoạn này đòi hỏi các quân chủ lực Xe, Pháo và Mã của cả hai cánh phải được huy động nhanh chóng tiến lên chiếm lấy những điểm thuận lợi. Cụ thể là hai Xe phải ra cho sớm để giành lấy các thông lộ 2, 4 hoặc 6, 8, còn Pháo thì tuỳ từng kiểu chơi bố trí cho đúng chỗ để sẵn sàng tham gia tấn công hoặc tiếp ứng phòng thủ. Đối với Mã cũng vậy, cần triển khai sớm để bảo vệ Tốt đầu, thường một con ở nhà phòng thủ, một con sẵn sàng nhảy qua phối hợp cùng các quân khác tấn công.
Việc đưa quân nào tấn công trước, quân nào chực chờ tiếp ứng và quân nào nhất thiết phải ở lại bên nhà để phòng thủ đều phải có kế hoạch. Không được tùy hứng điều động lung tung, nhất là không xác định rõ nhiệm vụ từng quân cờ cụ thể thì hàng ngũ sẽ mau rối loạn. Khi chơi có kế hoạch, tức là các quân được bố trí theo một đội hình chiến đấu thì sang giai đoạn trung cuộc sẽ dễ dàng thực hiện các ý đồ chiến lược một cách chủ động.
Sau đây chúng ta xem một số ván cờ cụ thể minh họa để thấy thực hiện đúng nguyên tắc thì giành ưu thế còn không theo nguyên tắc sẽ bị động và thất bại như thế nào.
[b]Ván 1: Pháo đầu phá thuận Pháo[/b]
[game]
FORMAT WXF
GAME Pháo đầu phá thuận Pháo
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
START{
1. P8-5 P2-5 2. M8.7 M2.3
3. X9.1 X1-2 4. X9-4 S6.5?
/*Không cần lên Sĩ vội, nhưng nếu có lên thì nên S4.5 để mở lộ Tướng khác bên, không để Xe đối phương dòm ngó rất nguy hiểm.*/
5. X4.7 M8.9 6. B3.1 X2.6?
/*Bên cánh trái của Đen bộc lộ yếu kém, đáng lẽ Xe Đen chỉ nên tuần hà để chi viện chứ không nên vội phản công.*/
7. M2.3 X2-3 8. M3.4 B3.1
9. M4.3 P8-6 10. M3.2 P6-8
11. X1.1 B3.1 12. X1-8
DIAG{ #12 BLUE }
/*Bên Trắng ra quân cả hai cánh, bây giờ đưa Xe chiếm lộ 8 với ý đồ phối hợp với Xe, Mã kia chiếu bí đối phương: 13.X4.1 S5/6 14.M2/4 Tg.1 15.X8.7, thắng. Do đó buộc Đen phải giải nguy.*/
12. … X9.1
13. X8.7 B3-4 14. X4.1 S5/6
15. M2/4 X9-6 16. X8-4 S4.5
17. X4.1 Tg5-6 18. P2-4 }END[/game]
Qua ván cờ ta thấy Trắng ra quân phóng khoáng, các quân phối hợp làm tê liệt cánh trái của đối phương, trong khi đó Đen chỉ sử dụng một Xe và một Tốt để tấn công.
[b]Ván 2: Pháo đầu phá đơn đề Mã[/b]
[game]
FORMAT WXF
GAME Pháo đầu phá đơn đề Mã
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
START{
1. P8-5 M8.7 2. M8.7 M2.1
3. X9-8 P2-4 4. B5.1 T7.5
5. B5.1 B5.1 6. X8.5 S6.5
/* Trắng đã ra Xe phối hợp với Tốt đầu phá vỡ trung lộ của Đen mà Đen vẫn chưa kịp ra một con Xe nào.*/
7. X8-5 X9-6 8. M2.3 P4.5
9. P2-1 P4-7 10. M7.5 X6.6
DIAG{ #11 RED }
/*Trắng đã hi sinh trước một Mã để giành thế tấn công rất hung hãn ở cánh mặt. Còn Đen lời quân nhưng một Xe chưa ra, các quân khác tản lạc, không đủ sức chống đỡ.*/
11. X1-2 P8-9 12. X2.7 P9.4
13. M5.4 M7/6 14. P1.4 P9.3
15. P1.3 M6.8 16. X2.1 X6.3
17. Tg5.1 X1-2 18. X2.1 S5/6
19. X5.2 S4.5 20. X2/1 }END[/game]
Thắng.
Với hai ván cờ trên cho thấy Đen bố trí đội hình không vững, đặc biệt các Xe chậm ra mà lại đi phản công đối phương, do đó ván cờ mới vào giai đoạn trung cuộc chưa bao lâu đã kết thúc.
[b]Ván 3: Bình phong Mã phá Pháo đầu[/b]
[game]
FORMAT WXF
GAME Bình phong Mã phá Pháo đầu
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
START{
1. M2.3 P8-5 2. M8.7 M8.7
3. T7.5 X9-8 4. X1-2 X8.6
5. B7.1 X8-7 6. M7.6 B7.1?
/*Trắng chơi trận khởi Mã rồi hình thành Bình Phong Mã, đội hình vững chắc, Đen lợi dụng đối phương không tấn công nên vào Pháo đầu, Xe qua hà để phản công. Nước C7.1 là ngừa Mã đối phương nhảy qua, nhưng sơ hở để P2.4 đe dọa bắt Xe, bắt Tượng khiến Đen thất thế.*/
7. P2.4 P5.4 8. S6.5 P5/1
9. P2-3 X7-4 10. P3.3 S6.5
11. P3-1 X4/1 12. X2.9 M7/6
DIAG{ #13 RED }
/*Trắng bỏ một Mã để lấy Xe, Pháo uy hiếp một cánh khiến đối phương hoàn toàn tê liệt, sau đó sẽ bắt lại quân và giành thắng lợi.*/
13. P8.2 X4-3 14. P8-5 X3/1
15. P1-4 X3-5 16. P4-6 S5/6
17. P6-4 M2.1 18. X9-6 X5.1
19. X6.8 P2-6 20. P4/1 }END[/game]
Thắng.
Trong khi bên Trắng huy động gần như toàn bộ các quân chủ lực để tấn công thì bên Đen chỉ sử dụng một Xe và một Pháo, còn quân một cánh hoàn toàn bất động. Khi gần kết thúc trận đấu coi như cánh mặt của Đen vẫn chưa triển khai, đó là một sai lầm nghiêm trọng không thể tha thứ được. Và rõ ràng sai lầm đó đã trả giá đắt.