[b]Ván 10: NGƯU ĐẦU HÌNH (Hình đầu trâu)[/b]
Trắng đi trước thắng.
[game solutionday=7]
FORMAT WXF
GAME NGƯU ĐẦU HÌNH (Hình đầu trâu)
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
FEN 1C5P1/R7P/1PPa1khH1/3c1c3/2P3r2/3H1p3/3p1h3/3p1K3/3rpp3/9 w – – – 1
START{
DIAG{ #1 RED }
1. M2.3 Tg6-5 2. Bt-6 Tg5-4
3. B8-7 Tg4-5 4. Bt-6 Tg5-4
5. X9/1 Tg4/1 6. M3/4 Tg4-5
7. M4/6 Tg5-4 8. Mt.8 Tg4-5
9. M8.7 Tg5-6 10. M7/6 Tg6-5
11. Mt/4 Tg5-6 12. M4.6 Tg6-5
13. X9.1 Tg5.1 14. Ms.7 Tg5-4
15. X9/1 }END[/game]
Related Posts
Biên bản ván cờ – những điều cần bàn thêm!
- Thanh Trúc
- 15/05/2006
- 0
Người ta có thể bỏ tiền mua, có thể mượn nhau để photocopy… tóm lại thể nào cũng phải có được một bản “cho mình” ấy thế nhưng không phải lúc nào người hâm mộ cũng được như ý. Có khi xem một ván cờ của hai danh thủ, thấy cờ vẫn còn ngang ngửa nhau lắm, chưa thể biết ai thắng ai, thì đột ngột ván cờ bị chấm hết và kết quả là một bên thắng, khiến người xem chưng hừng. Lại có trường hợp một giải đấu có hai giai đoạn, giai đoạn 1 đấu theo hệ Thụy Sĩ 11 ván, giai đoạn 2 là đấu đối kháng loại trực tiếp bằng 2 ván. Nhưng biên bản chỉ có các ván của giai đoạn 1, còn giai đoạn 2 thì lại chẳng có ván nào. Mà đây mới là nhlững ván quyết liệt nhất quan trọng nhất để tranh các thứ hạng quán quân, Á quân – ai cũng muốn có được để xem!
Vì sao vậy?
Có nhiều nguyên nhân, nhưng hầu như tất cả đều là nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất: Do kỳ thủ. Trong quá trình thi đấu theo quy định của Luật cờ Tướng tất cả các đấu thủ đều phải ghi biên bản, mà phải ghi đủ từ đầu chí cuối nếu không ghi thì sẽ bị ghi lỗi và và sau và lần nhắc nhở mà vẫn tiếp tục không ghi thì sẽ bị xử thua. Cho nên nên thực tế đấu thủ nào cũng phải ghi đầy đủ biên bản ván cờ. Tuy nhiên Luật cũng có quy định, nếu thời gian còn ít hơn 5 phút thì đấu thủ có quyền không ghi biên bản (để dồn toàn bộ thì giờ cho ván đấu), lúc đó trọng tài phải có nhiệm vụ ghi thay. Thế nhưng vì mỗi trọng tài phải trông coi nhiều bàn, nên có những khi trọng tài không thể ghi được, do đó ván cờ có thể ghi không đủ.
Tuy nhiên, cũng theo quy định thì tuy không ghi trong thời gian đó nhưng sau khi kết thúc ván cờ đấu thủ nào chưa ghi đủ thì phải mượn biên bản của đối thủ để chép lại cho đủ, nộp cho trọng tài thì mới được gọi là kết thúc ván đấu. Ở ta, trọng tài thường bỏ qua khâu này, nên thường biên bản bị mất đoạn cuối. Lại có một số đấu thủ ghi biên bản bị sót hoặc ghi cẩu thả không thể đọc được mặc dù luật đã quy định là phải ghi chính xác, rõ ràng để ban tổ chức sử dụng (Theo luật thì biên bản là tài sản do ban tổ chức sử dụng và quản lý, kỳ thủ có thể sao chép lại cho riêng mình hoặc có thể mượn đối thủ để chép lại cho đầy đủ).
Thực ra thì sau khi kết thúc ván đấu, trọng tài phải có những thao tác đầy đủ như sau: nhận biên bản của các đấu thủ, sau đó hai đấu thủ còn phải ngồi lại, trọng tài vừa đọc nước đi vừa đi quân, kiểm tra xem toàn bộ biên bản có được ghi đúng không (bởi cũng có trường hợp đấu thủ ghi bị lỗi hay ghi sót nước đi, hoặc ghi không rõ ràng) lúc này trọng tài phải chỉnh sửa biên bản ngay trước mặt hai đấu thủ, khi chỉnh sửa xong trọng tài mới ký xác nhận, lúc đó biên bản mới có giá trị.
Những trọng tài có trình độ và thành thạo thì chỉ cầm mất vài ba phút là có thể vừa đọc vừa xếp lại cả ván cờ.
Với cách làm đúng đắn này thì khi biên bản được nộp lên ban tổ chức không thể có sai sót nữa. Thế nhưng trọng tài ở ta hoàn toàn bỏ qua khâu quy định quan trọng này.
Mặt khác có những trọng tài trình độ yếu nên không đọc được biên bản, mặt khác cả đấu thủ lẫn trọng tài có thói quen lâu nay là đấu xong rồi là coi như xong không chú ý gì tới biên bản nữa. Vậy thì biên bản sai sót hay thiếu là chuyện đương nhiên.
Chưa hết, tới lượt bộ phận làm văn bản.
Nếu bộ phận này làm cẩn thận thì bao giờ cũng có được văn bản trọn vẹn của ván cờ, thế nhưng một số người nhìn thấy những ván cờ nhiều nước đi thì đâm e ngại, sợ tốn công tốn sức, thế là tự ý cắt ngắn cho “đỡ mệt”.
Lại còn đáng trách hơn nữa là các ván cuối cùng của giải, những người làm biên bản với tâm lý sắp “rút quân” tới nơi, thế là không chịu làm biên bản nữa. Ví dụ giải cờ tướng hạng nhất quốc gia tại Quảng Ninh năm 2005 hoàn toàn không có phần các ván ở giai đoạn 2, do tâm lý rã đám. Năm nay tại Vũng Tàu, quyển kỷ yếu tuy in rất đẹp và khá đầy đủ các phần khác nhưng các ván ở giai đoạn 2 cũng không có nốt, quyển này được phát cho các đoàn làm tài liệu, như vậy rõ ràng tài liệu vẫn chưa được hoàn chỉnh. Rất thông cảm với ban tổ chức là muốn có một bản kỷ yếu sang trọng như thế thì phải làm sớm, thế nhưng cách khác phục cũng thật đơn giản: chỉ cần photo các ván giai đoạn 2 ghép vào là được.
Ngoài tài liệu có được ngay tại giải còn phải kể tới những tài liệu được sưu tầm từ các ván quốc tế nếu làm không cẩn thận cũng dễ bị “tam sao thất bản”. Nhiều người tự cho mình có trình độ nên tới một chỗ nào đó thấy một bên sắp thua thế là cho thua luôn, chứ không làm cho tới nước cuối, khiến người xem bị hẫng hụt.
Tuy nhiên cũng có trường hợp một bên (ví dụ bên A) đang thắng cờ rõ, thế mà biên bản đột ngột bị dừng lại và ghi chú bên dưới là A thua khiến người xem cho là bị nhầm lẫn, gây một cảm giác rất khó chịu. Tuy nhiên chuyện này hoàn toàn có thể xảy ra, ví dụ bên A sắp thắng nhưng bị hết giờ và bị xử thua, hoặc bên A sắp thắng nhưng phạm luật nên bị xử thua, hay bên A sắp thắng như bị ốm đau đột ngột nên phải chịu thua… Thực ra giải quyết những trường hợp biên bản này hoàn toàn không khó: chỉ cần một dòng chú thích nhỏ phía dưới như “thua do hết giờ”, “thua do phạm luật” hay thua do phải đi cấp cứu chẳng hạn là mọi việc sẽ hết sức rõ ràng minh bạch. Nhiều trọng tài và nhiều người làm biên bản đã hoàn toàn không chú ý tới điều này.
Một số biên bản cờ tướng gặp khó khăn ở khâu dịch tên người đánh cờ, mà nếu không dịch ra tên thì ván cờ trở thành vô nghĩa. Hiện nay những tài liệu được tải về từ mạng internet gặp một cái khó là tên các danh thủ được phiên âm sang tiến La tinh nên không biết đó là ai, vì dụ viết “Xu chuan jing” thì khó mà hiểu đó chính là Hứa Ngân Xuyên, Nei the wuan thì biết rất rõ mới dám dịch là Nhiếp Thiết Văn… Hơn nữa nếu tải về bằng chính tiếng Trung Quốc thì phải có những người biết chữ Hán mới đọc được. Mà đã không đọc được thì không dám làm văn bản ván đó. Chính vì vậy trong các tập văn bản được phát ra, một mặt người ta cứ sao y bản chuẩn ai đọc được thì đọc, không đọc được thì thôi, mặt khác cũng có người bỏ luôn các ván đó đã tạo nên những “lỗ hổng” của một giải.
Cũng có những trường hợp trong các quyển biên bản nên ghi rõ tên của giải, tên các kỳ thủ tham giai thứ tự xếp hạng chung cuộc, thời gian diễn ra giải… có người tưởng điều đó có cũng được không cũng được, nhưng thật ra nó có tầm quan trọng nhất định.
Ví dụ theo dõi một giải “Ngũ Dương bôi” người ta phải biết đó là giải của năm nào, ai vô địch, có bao nhiêu danh thủ tham gia…
Biên bản thực ra là một công việc nghiêm túc, công phu, tỷ mỉ, cẩn trọng chứ không phải việc làm theo hửng thú. Hiện nay ở một số giải người ta thu tiền làm biên bản. Đã thu tiền thì phải làm thật đầy đủ, từ tế, hoàn chỉnh để phục vụ người mua. Mà cũng nên làm như thế, nó mang tính sòng phảng hơn. Vì nếu làm theo kiểu biếu không, cho chác thì khiến người làm cũng không có trách nhiệm và người được tặng hay cho cũng cảm thấy áy náy, mang ơn và khi phát hiện ra sai sót thì cũng “há miệng mắc quai” chẳng biết kêu ai. Rốt cuộc là giải đấu không có được một tập biên bản nghiêm chỉnh, hoặc nhiều sai sót hoặc mất ván này ván nọ…
Cuộc cờ
- Trương Thái Du
- 21/12/2010
- 0
Nói nào ngay, ông Tư trong mắt đa phần thiên hạ là kẻ bất bại. Nghe bảo đận trung niên, ông Tư gặp một tay yên hùng lục lâm non choẹt nhưng có chiêu tốc chiến tốc thắng, đè xe ém mã rất kinh hồn. Biết mình vào thế kẹt và sẽ mất tước bách thắng, lựa lúc đi giải ông Tư tạt vô chái bếp cơi lửa ủ mạt cưa vào vách gỗ.
Khách chưa kịp giở phục chiêu giăng sẵn thì đã nghe làng xóm í ới cháy nhà. Xúm xít kẻ tát người bê tình giềng nghĩa láng, ông Tư không mất chốn dung thân. Hôm sau mặc vợ con lui cui dọn dẹp phên nẹp nửa căn nhà bị cháy sém; ông Tư thản nhiên trốn ngoài bờ trúc góc vườn kẻ kẻ, vạch vạch các ô vuông giải bàn cờ suýt thua.
***
Năm 20 tuổi, trên đường câu cá kiếm cơm, ông Tư nhặt được quyển Kỳ thư bên suối Khu Bê. Duyên trời cộng với đĩnh ngộ, ông mau chóng nổi lên như một hảo thủ vùng Lạt. Thật sự các nước cờ của ông Tư cũng thường thôi, nghiệt là chúng lại kết hợp với nhau trong trật tự hết sức cao cường, thông cổ, tường kim, mạch lạc mà lại có vẻ bí hiểm. Có lần ông dụ địch thủ chén ngấu cả hai con xe, trong khi chàng chốt quèn lặng lẽ áp thành cản tượng cho pháo giác kết liễu tướng giặc. Ông thành danh cũng có chữ liều và không màng trả giá.
Cao nhân cũng lắm kiểu ngạnh. Trò ông chơi ai cũng gọi là cờ tướng hay văn vẻ nho nhe “tượng kỳ”, còn ông thì cụt lủn: “cờ voi”. Bọn sính chữ một phép thường xướng đường biên giữa hai phía là “Hán giới – Sở hà”, riêng ông xem đó như ranh mép ngày – đêm. Ta là ngày, nó là đêm. Ta sáng nó tối. Ta dương nó âm. Ta hiền nó dữ. Ta khôn nó ngu…
Ông Tư chơi cờ cả đời và chiến thắng cả đời nên chẳng có lý do gì trận đấu từ giã xới cờ ông không thắng nốt. Lúc ấy ông cũng đã gần đất xa trời. Ông đem bàn cờ hằn dấu những cái nện ăn quân chan chát mấy mươi năm đặt trên tủ thờ, như báo cáo chiến công với tiên tổ.
Tình thực, đó cũng là ý nghĩa duy nhất của đời ông, bởi bao năm ông chỉ biết ăn uống, chơi cờ và… yêu vợ. “Vợ làm vợ ăn, vợ làm chồng ăn, con bú sữa mẹ” là phương châm sống kiên định của ông Tư. Bầy con nheo nhóc lớn lên rồi trưởng thành ở tứ xứ vẫn luôn răm rắp, khúm núm trước mặt ơn sinh thành.
Nhưng ai biết dâu bể khôn lường, ông Tư có một lũ cháu A khùng hay cãi chày cãi cối. Giỗ tết cả nhà sum vầy, nếu ông mở lời kể lể chiến công một đời đánh cờ, y rằng bọn A khùng ấy sổ toẹt hết. Mà tuồng như chúng lại có lý mới chết chứ!
– Ông dịch chữ nho sai rồi ông ơi – thằng cháu đích tôn là hay gây hấn với ông nhất, vì cậy sở học hồ hải vinh qui bái tổ – Chữ tượng trong tượng kỳ đâu phải là con voi! Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng của trận đánh.
– Khéo vẽ, sao không nói nốt chữ nhân chớ phải là người đi.
– So với cờ quốc tế, cờ của ông rất thiếu công bằng. Con chốt mãi mãi là con chốt.
– Chứng chóa mắt ngoài bờ tre đây. Vậy cái thằng quốc tế liên hiệp nó công bằng giữa nhược tiểu và cường thịnh, giữa nhiều tiền và ít tiền, giữa nước lớn và nước bé như thế nào?
– Ông à, ông chơi cờ cả đời không chán ư? – Đến lượt thằng cháu mua bán ngoài chợ thắc mắc.
– Đời chẳng qua cũng là một cuộc chơi.
– Nhưng cháu thấy vinh quang tinh thần của ông nó yếm thế như thế nào ấy. Buổi xôi thịt này có no được đâu.
– Ta già rồi, lũ cháu không hiểu cũng là dễ hiểu!
Từ đó ông Tư sinh ra lẩm cẩm, suốt ngày thì thầm “không hiểu cũng là dễ hiểu”. Ông đem bàn cờ cũ để hẳn xuống trường kỷ, rồi lấy giấy nhám xóa dần những đường chéo làm sông ở giữa.
***
Cái tin ông Tư đột nhiên chơi cờ trở lại ngỡ sẽ làm con cháu phiền lòng. Nhưng không, ông chơi rất lạ và chỉ chơi với chính ông: bộ cờ mới ông giữ mỗi bốn con tượng. Ông quân xanh, đối thủ vô hình quân đỏ (không như ngày xưa lúc nào ông cũng đỏ để nhường xanh đi trước, hậu thắng tiên mới oai!).
Ngày ngày ngồi lì bên bàn cờ trống hoác, tay phải ông chống tượng thì tay trái với qua phía đối diện đẩy tượng lên biên. Hai cặp tượng căng lắm là gườm nhau qua dòng sông. Nước chéo vuông của tượng hình như thay thế tạm các kẻ chéo chữ nhật ông đã bôi xóa. Lòng ông sôi sục năm tháng cũ, các nước cờ cũ, các con cờ cũ vô hình.
E hèm, tượng không phải là voi? Ông nhớ lại lời thằng cháu. Xưa ông ít dùng tượng. Cờ ông là cờ toàn công, pháo đầu thượng sách nên ông xem thường quân tượng. Nếu là voi sao tượng không vượt sông lâm trận? Người Trung Hoa sáng tạo ra tượng kỳ khi chiến xa (được hình tượng hóa vào con xe) còn chiếm ưu thế tuyệt đối trên chiến trường. Kỵ binh (con mã) bắt đầu được biết đến ở đời Triệu Linh Vương (nước Triệu), năm 307 trước Công nguyên, khi họ Triệu cải trang phục giống người Hồ để dễ dàng cưỡi ngựa. Thời Chiến quốc ấy làm gì có voi trên mặt trận nào.
Qua Đông Hán người Tàu mới gặp voi ở Trung bộ Việt Nam hôm nay nên bày ra huyện Tượng Lâm. Nếu Tượng Lâm là vùng rừng có voi thì Tượng Quận thời Tần chẳng lẽ lại mang nghĩa một quận tượng trưng trên bàn tiệc thực dân? Khéo bọn thực dân đại quốc ngày xưa chỉ xem khu vực có tổ quốc ông là một cuộc cờ tượng trưng không chừng!
Cũng là tượng nhưng sao rắc rối thế. Ông Tư quyết đánh cờ với bốn quân tượng đến khi nào ông không còn mắc mớ trong lòng nữa mới thôi.
Chỉ tội bà Tư hồn hậu, nhân từ. Nhìn ông chơi cờ một mình mà ruột gan bà xát muối ớt. Xưa bà chẳng quản “quanh năm buôn bán ở mom sông” để ông “vĩ mô” với thiên hạ, oai hùng riêng trấn muôn trượng một góc trời. Khốn khó hi sinh, cuối cùng đàn con của bà cũng se lông, khỏe cánh tung bay khắp nơi. Ông nghỉ chơi cờ dăm năm, bà hân hoan mấy mùa? Hủ hỉ vào ra, bà chẳng hiểu cờ nhưng ngồi nghe không sót các cuộc luận những ván cờ oanh liệt năm xưa của ông. Hai người, ông cứ nói, bà chỉ ừ. Âm lòng đến lạ.
Ây thế mà bây giờ cứ hoảnh mắt là ông ngồi xuống trường kỷ đẩy tới đẩy lui bốn con tượng. Bà Tư hốt hoảng: “Hay là có ma cờ? Một đời ông dày vò nó, nay ông đầu bạc răng long, nó quay lại hành ông, biến ông thành một quân cờ”.
***
Xế nay nhà ông Tư có khách xa. Bà Tư dọ hỏi sự tình, trong khi ông chẳng màng, đầu óc tập trung chuyển cờ, miệng nín khe.
– Thưa ông, con là kẻ bại trận cái hôm nhà ông bị cháy…
– Thật may phúc – bà Tư đỡ lời, nhìn dáng người, xe cộ, bà đoán khách giàu phải biết.
– Con nghiệm ra trong đám cháy và cuộc cờ tiềm năng tố chất của đất đai, con người vùng mình, xứ mình. Khi tích cóp đủ vốn liếng, con về huyện bên mở lối làm ăn dành dụm. Công nhân của con, hơn nửa là người Lạt. Con cháu ông bà cũng tròn chục gắn bó với con đã khá lâu.
– Vậy ra anh là ân nhân nhà tôi.
– Bà nói quá. Không có ông chỉ bảo con đâu thể nên người.
Tình thế vừa đủ lọt lý, ông Tư mới ngước mắt lên gằn giọng:
– Anh lại muốn kiếm chác trong ngôi nhà cổ đã một lần cháy dở này?
– Con tính khí không phải. Khách thập phương đến Lạt ai cũng háo hức về chuyện đời cờ của ông. Con sẽ sang sửa ngôi nhà, lập một mái đình lợp ngói âm dương nóc tròn ngoài sân, dựng tượng ông ngồi bên bàn cờ đá như trên tiên giới. Đây sẽ là điểm nhấn của toàn bộ khu du lịch mà con đã được cấp phép, bắt đầu thương lượng bồi hoàn, giải tỏa.
– Hai khọm già này sẽ bị tống cổ đi chứ?
– Ây… ông bà là nhân chứng sống một thời, con đâu dám. Đất xung quanh vẫn của ông. Chẳng việc gì ông bà phải dọn đi đâu. Con sẽ gửi thêm lương thưởng hậu hĩ…
Ông Tư mệt rồi. Ông không buồn nghĩ nữa. Ông đứng dậy nhặt bốn con tượng và nách cái bàn gỗ sắp mục ra sân. Vòm mai anh đào ưng ửng dưới nắng chiều xuân. Trời đất đẹp lạ lùng mà lòng ông cứ nhói lên nỗi buồn không thể đặt tên là chiến thắng.
Ông Tư ngồi xếp bằng, bệt xuống đất. Bàn cờ nằm hơi nghiêng xuống thung lũng, trên chiếc đôn đá cạnh gốc thông xù xì. Ông dựng bốn con tượng thẳng lên như bánh xe rồi lơ đãng nới tay. Chiếc ôtô tàng hình vụt lao xuống vực. Ông Tư không cần quân cờ nữa. Đã đến lúc ông có thể chơi trên một bàn cờ chay, hay nói đúng hơn ông lẫn lộn chẳng biết mình là quân cờ hay quân cờ là mình.
Đêm tới. Đám lá thông lập cập trong gió, âm u hát như mong xua đi hơi lạnh cao nguyên bốc lên từ lòng đất. Khách đã ra về từ lâu. Chẳng thấy ông đâu, bà Tư nháo nhác đi tìm khắp nơi. Rồi bất lực, bà hoảng loạn nhắn gọi con cháu kíp tới giúp. Ánh đèn pin loang loáng khắp vườn, tiếng réo kêu nối nhau mất hút. Tinh mơ, hàng chục người suốt đêm quần thảo bở hơi tai hết ba quả đồi và năm cái hụt, đành ngược dốc về nhà.
***
Ban mai. Gió tung những cánh anh đào rụng đêm qua vào nắng, chấp chới như một đàn bướm hồng. Ông Tư đã hóa đá bên cội thông trăm tuổi. Đúng là tiên ông sống động, hơn cả óc tưởng tượng thương mại sặc mùi tiền của gã đại gia nọ. Bà Tư và đám con cháu sững sờ, không thể tin vào mắt mình.
Ông Tư về với tiên tổ, nhẹ nhàng, thanh thoát làm sao. Những cuộc cờ, những quân tướng tượng trưng, đơn giản chỉ là một trò chơi cõi tạm. Được mất có lẽ nằm ở cách chơi, chứ phải đâu là kết cục thắng hay bại gần như vô nghĩa!
Trần Quới (3)
- Lê Thiên Vị
- 19/09/2005
- 0
[img maxheight=100 maxwidth=100]xq50-0.jpg;right;Trần Quới[/img]Tháng 4/1988 hai danh thủ Hà Nội là Nguyễn Tấn Thọ và Đinh Trường Sơn vào thăm thành phố HCM. Liên đoàn cờ tp HCM phối hợp với Phòng TDTT Quận 1 (nay là Trung tâm TDTT quận 1) tổ chức một cuộc thi đấu giao hữu tại Câu lạc bộ 116 Nguyễn Du quận 1. TpHCM đưa ra bốn danh thủ lừng lẫy nhất là Phạm Nam Đài, Trần Quới, Mai Thanh Minh và Nguyễn Văn Xuân. Cuộc so tài không chính thức đã được giới hâm mộ chờ đón từ lâu, nhất là các kỳ thủ ở Sài Gòn trước đây vốn được nghe tiếng tăm lừng lẫy của danh thủ Nguyễn Tấn Thọ nổi tiếng từ những năm 1954 và lại đứng đầu nhóm “Hà Nội ngũ Tốt” nên lần thi đấu này được giới hâm mộ chào đón một cách nhiệt liệt. Mỗi đêm thi đấu đều có diễn lại trên hai bàn cờ lớn để khán giả thưởng thức. Trận cờ giữa danh thủ Nguyễn Tấn Thọ và Trần Quới được đặc biệt chú ý nhiều nhất vì đây là một cuộc so tài giữa hai kỳ vương của hai miền Nam, Bắc. Người hâm mộ muốn học hỏi những tuyệt chiêu sở trường của hai danh thủ này nên kéo đến xem rất đông. Bình luận viên lúc bấy giờ là anh Quách Anh Tú đã được Ban Tổ chức mời đến thuyết minh các nước cờ ảo diệu của hai danh thủ. Tuy nhiên các cuộc thi đấu giữa danh thủ Đinh Trường Sơn với các danh thủ TpHCM cũng không kém phần hấp dẫn. Đinh Trường Sơn với thành tích vô địch Hà Nội năm 1984 cũng đủ nói lên trình độ của một danh thủ ở đẳng cấp cao.
Nhắc lại trận cờ giữa danh thủ Nguyễn Tấn Thọ và Trần Quới diễn ra hết sức sôi nổi, mọi người hồi hộp theo dõi từng nước đi diễn ra trên bàn cờ và những tiếng bình luận, cãi vã lẫn phê bình theo suy nghĩ của mình râm ran trong các hàng ghế khán giả đã làm cho cuộc cờ vốn hấp dẫn càng hấp dẫn hơn.
Cuối cùng hai ván cờ giao hữu đều đưa đến kết quả hòa nhau, không ai dám mạo hiểm nên không bên nào mở được tỷ số.
Sau đó ít hôm anh Trần Hà, nguyên Hội trưởng Hội cờ Tướng quận 5 có mời hai danh thủ Nguyễn Tấn Thọ và Đinh Trường Sơn đến CLB cờ Tướng quận 5 để thi đấu biểu diễn tiếp phục vụ khách hâm mộ. Một số kỳ thủ mới được mời tham dự trong đó có Diệp Khai Dương và Lại Cẩm Kỳ… Tuy nhiên ván cờ mà mọi người chờ đợi nhất vẫn là ván đấu của hai danh thủ Nguyễn Tấn Thọ và Trần Quới. Lần này hai danh thủ biểu diễn đều bịt mắt, nghĩa là phải thi đấu “cờ tưởng”, một hình thức thi đấu mới lạ đã thu hút rất đông khán giả, nhất là các kỳ thủ người gốc Hoa. Rất nhiều ghế và băng để ngồi nhưng vẫn không đủ chỗ, số đến sau phải đứng chen chúc trong một chiếc sân khá rộng để theo dõi cuộc cờ mà mọi người cho là trận tranh tài giữa “Bắc Vương, Nam Đế”. Hai ván cờ kéo dài đến khuya và kết quả cũng lại hòa nhau. Đến bây giờ mọi người mới thỏa mãn ra về và thầm bảo nhau: “Kỳ Vương Nguyễn Tấn Thọ lợi hại thật, quả là danh bất hư truyền!”.
Một câu chuyện khác về Trần Quới cũng không kém phần hấp dẫn đã được chính danh thủ Đỗ Minh Nhật (Phan Thiết) kể lại như sau:
Khoảng năm 1982 danh thủ Đỗ Minh Nhật đến tạm cư tại thành phố Biên Hòa, người ta thường gọi anh là Bảy Cảnh. Khi đến Biên Hòa anh đã giao hữu với nhiều danh thủ tại đây như Phạm Quốc Bình, anh Cẩu… đều đem lại cho anh thắng lợi vẻ vang.
Hôm ấy có người giới thiệu anh với một kỳ thủ trẻ tướng mạo ra dáng thư sinh, người hơi thấp. Đương nhiên là hai người chơi một ván cờ phải cá cược một số tiền nào đó mới hào hứng và hấp dẫn. Tay cờ trẻ này có dáng cũng rất tự tin. Tuy nhiên so với Bảy Cảnh thì anh ta còn thiếu nhiều kinh nghiệm giang hồ nên thi đấu đến quá trưa thì tiền trong túi của hắn ta đã sạch nhẵng. Cầm cả đồng hồ đang đeo cũng thua nốt.
Hai ngày sau kỳ thủ trẻ này trở lại chuộc đồng hồ và xin tái chiến. Lúc này Bảy Cảnh đã chấp hắn ta đến một tiên rưỡi. Đồng thời trong thời gian này Bảy Cảnh cũng điều tra lý lịch của hắn ta. Được biết đây là một kỳ thủ chưa có tên tuổi trong làng cờ Thành phố Hồ Chí Minh, tên hắn ta là Bùi Văn Phương tự là Phương chuồng bò. Lần tái đấu này đấu tại nhà anh Tài và anh Tài cũng quen biết Bảy Cảnh.
Qua các ván đấu Bảy Cảnh thua liên tục cuối cùng Bảy Cảnh phải cầm cả xe máy 87 của mình để chung độ. Bảy Cảnh nhớ lại có một ván cờ Cảnh sắp thắng đến nơi thì bất ngờ tên Phương đi một nước bỏ Xe thủ hòa! Vì nước cờ này quá hay, ngoài sức tưởng tượng của anh nên người anh toát mồ hôi ướt đẫm, anh ngồi bất động gần 30 phút để trầm ngâm…
Khi thua hết tiền thì anh đi thất thểu về nhà, qua một căn phố trên đường Phan Đình Phùng anh thoán thấy Trần Quới được một người bạn chở trên một chiếc xe máy tình cờ lướt qua…
Với linh tính cộng với kinh nghiệm giang hồ, Bảy Cảnh chợt hiểu ra… vừa đi anh vừa nhẩm lại câu thơ:
[i]”Lỡ tay trót đã nhúng chàm
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây”.[/i]