Kiện tướng Dus Chotimirsky giảng bài cờ rất sinh động, thích thảo luận và cũng thường sa vào những cuộc tranh luận. Một lần khi trình diễn lại một ván cờ của mình, ông hỏi khán giả:
– Nào, vậy theo các bạn thì tôi nên chơi như thế nào ở đây?
Có ai đó dưới khán giả trả lời:
– Ông sẽ đi Mã đến c6.
– Tuyệt đối chính xác – Dus Chotimirsky kêu lên hoan hỷ – đó chính là cái nước ngu ngốc nhất mà tôi đã đi.
Related Posts
Súng thần công xưa nay
- Anh Chi
- 19/09/2005
- 0
[img]xq93-0.jpg;center;[/img]Tiền thân của súng thần công ở nước ta là những cỗ máy bắn đá. Một số thư tịch cổ có ghi: Vào năm 1076, thời nhà Lý, trong một trận đánh do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã dùng máy bắn đá công phá thành Ung Châu trên đất Tống. Máy bắn đá tiếp tục được quân đội các thời Trần, Hồ và Lê sử dụng. Cấu tạo của súng bắn đá dựa theo nguyên tắc sức bật của cần tre hoặc những dụng cụ tạo sức bật để bắn những viên đá vào mục tiêu. Đó là loại súng thô sơ, sức công phá còn rất hạn chế. Chỉ đến khi thuốc súng được dùng làm vũ khí, thì sức mạnh của nó mới ghê gớm.
Thời trung đại, người Trung Quốc có 4 phát minh quan trọng nhất thế giới: làm được giấy viết, tạo nên kỹ thuật in, khám phá ra kim chỉ nam và tìm ra thuốc súng. Riêng về thuốc súng, do sự ngẫu nhiên mà người ta phát minh được. Thời nhà Đường, Đạo giáo rất thịnh hành. Những người theo Đạo giáo tin rằng có thể luyện được thuốc trường sinh và luyện ra vàng, do vậy mà thuật luyện đan rất phổ biến. Những nhà luyện đan, luyện vàng hay dùng diêm tiêu, lưu huỳnh và than gỗ nên thường xảy ra các vụ cháy… Và, thật tình cờ, họ tìm ra hợp chất gây bùng cháy mạnh, chính là thuốc súng. Đến đầu thế kỷ X, thuốc súng được dùng làm vũ khí. Họ còn tạo ra tên lửa, quạt lửa, đạn bay…, nhưng chỉ có tác dụng đốt cháy doanh trại đối phương. Thời nhà Tống, người ta không ngừng cải tiến vũ khí dùng thuốc súng. Trong cuộc chiến tranh Tống-Kim, quân Tống đã có loại vũ khí mang tên “chấn thiên lôi” nổ vang như sấm và làm cháy rộng hơn nửa mẫu đất, đốt cháy cả người và da bò. Đến năm 1132, người Trung Quốc chế được loại vũ khí gọi là “hoả thương”, hình dáng như một chiếc ống. Thoạt đầu, hoả thương làm bằng những ống tre, trong lòng nạp thuốc súng, khi đánh nhau thì đốt ngòi, lửa phun ra thiêu đốt đối phương. Đến thế kỷ XIII, quân Nguyên Mông tấn công Trung Quốc, đã học được thuật chế thuốc súng. Khi đi chinh phục Tây Á, họ mang theo cả kỹ thuật chế thuốc súng. Tiếp nữa, người Ả Rập lại đem kỹ thuật chế thuốc súng sang Tây Ban Nha và châu Âu.
Đến đầu thế kỷ XV, kỹ thuật chế tạo súng có sự tiến bộ vượt bậc do công của người Việt Nam. Trong sách “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn có viết: “… Con trai của Hồ Quý Ly, là Hồ Nguyên Trừng, đã sáng tạo ra phương pháp làm súng “Thần cơ sang pháo”. Loại súng này được đúc bằng sắt hoặc đồng, có nhiều cỡ, lớn thì kéo bằng xe, nhỏ thì dùng giá gỗ hay vác vai…”. Năm 1406, nhà Minh sang xâm lược nước ta, bắt được cha con Hồ Quý Ly. Thấy Hồ Nguyên Trừng là người có tài về về kỹ thuật quân sự, người Minh đã biệt đãi, cử Hồ Nguyên Trừng làm quan, tới chức Thượng thư Bộ công. Phần “Binh chế khí” trong “Minh sử” có viết: Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo ra súng thần cơ, có ba loại lớn, nhỏ khác nhau. Súng lớn đặt trên lưng voi, súng nhỡ hai người khiêng, súng nhỏ vác vai. Khi có súng thần cơ, nhà Minh tổ chức biên chế lại quân đội cho phù hợp với vũ khí có sức mạnh lớn này. Mỗi lần ra trận có bắn thần cơ, người Minh đều làm lễ tế Hồ Nguyên Trừng. Bởi, Hồ Nguyên Trừng được coi là ông tổ của súng thần công Trung Quốc, và sau khi ông qua đời còn được vua Minh sắc phong làm “Thần hoả khí”. Thần cơ là vũ khí vô cùng lợi hại.
Cũng vào đầu thế kỷ XV, Pháp là nước đầu tiên ở châu Âu chế tạo được súng thần công bắn bằng sức đẩy của thuốc súng, làm những viên đạn bằng gang bay đi xa hơn và sức công phá vô cùng mạnh. Việc sử dụng súng thần công bắt đầu được phổ biến rộng rãi sang các quốc gia khác ở châu Âu. Ở Việt Nam, đến thế kỷ XVII, cuộc chiến tranh Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn đàng trong đều đua nhau mua súng thần công của các lái buôn châu Âu. Các chúa còn nhờ chuyên gia Hà Lan, Bồ Đào Nha hướng dẫn cho đúc súng thần công. Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn có ghi: “Ở luỹ Đồng Hới của chúa Nguyễn có các loại súng đạn chất như núi. Dọc theo tuyến phòng thủ ven biển Đà Nẵng, quân chúa Nguyễn có hàng trăm súng thần công… Đến năm 1786, quân Tây Sơn chiếm được Phú Xuân, thu được 1.200 khẩu thần công. Sau nữa, chiến dịch giải phóng kinh thành Thăng Long, quân Tây Sơn cũng đã thu được vô khối súng thần công của quân Trịnh. Sang thời nhà Nguyễn, đầu thế kỷ XIX, cùng những súng thần công đã có từ trước, các vua Nguyễn đã cho đúc thêm rất nhiều súng thần công, trang bị cho tất cả các thành. Chỉ riêng thành Gia Định, năm 1819, có 250 khẩu súng thần công bố trí trên mặt thành…”.
Có thể nói, súng thần công là một trong những loại vũ khí trọng yếu của quân đội nước ta thời trung đại. Nhưng, đến thời nhà Nguyễn, súng thần công không được cải tiến thêm về kỹ thuật, nên trở thành lạc hậu so với các loại pháo bắn đạn nổ mà các nước phương Tây đã làm được. Vậy là, cùng với quân Pháp, súng thần công đã chịu thúc thủ trước vũ khí hiện đại.
Ngày nay, ở một vài di tích thành cổ, ở các bảo tàng, còn thấy những khẩu súng thần công cũ kỹ. Đó là những khẩu súng từng qua trận mạc, như một kỷ niệm buồn còn lại. Duy có 9 khẩu thần công ở cố đô Huế mà người dân ở đây gọi là “Cửu vị thần công”, rất to lớn, oai vệ, nhưng từ khi ra đời đến nay chưa lần nào được khai hoả. Theo sách “Đại Nam thực lục”: Sau khi lên ngôi năm 1802, vua Gia Long đã cho gom số đồng thu được của nhà Tây Sơn đem đúc thành 9 khẩu súng lớn. Bốn vị đại thần là Nguyễn Văn Khiêm, Hoàng Văn Cẩn, Cái Văn Hiếu, Phan Tiến Cẩn và một số binh sỹ, thợ thuyền thuộc Bộ Binh và Bộ Công, tiến hành đúc súng từ tháng 2/1803 đến tháng 8/1804 thì hoàn thành. Các khẩu súng này được đặt tên theo “tứ thời” và “ngũ hành”. Mỗi khẩu dài 5,1 mét với đường kính miệng là 225 milimét, đặt trên một giá súng bằng gỗ lim có đai sắt rất vững chắc. Trọng lượng mỗi khẩu, kể cả giá súng, là 11.900kg. Súng được làm để trang hoàng cho Hoàng Thành thêm uy nghiêm, chứ chưa bao giờ dùng để bắn. Năm 1816, tên đặt cho bộ 9 khẩu súng này là: Thần Cai Vô Địch Thượng Tướng Quân.
Qua hai thế kỷ, dân Huế chỉ quen gọi cả bộ súng này là “Cửu vị thần công”. Bộ súng này có một giá trị lịch sử đặc biệt gắn liền với đời sống của người dân cố đô Huế. Gần đây, cùng với việc trùng tu, tôn tạo cố đô, 9 khẩu súng thần công cũng được phục chế những chỗ bị hư hại. Vậy là, từ những khẩu súng bắn đá, đến những “thần cơ” do Hồ Nguyên Trừng chế tạo và tới những súng thần công sau này, tất cả đã trở thành quá khứ. Chín khẩu súng thần công còn lại ở cố đô Huế, người ta đến chiêm ngưỡng và thấy ở nó một giá trị khác: Một bộ tác phẩm đúc đồng đồ sộ và có giá trị bậc nhất trong lịch sử đúc đồng Việt Nam!./.
Cà phê – cờ
- Minh Chiến
- 15/10/2005
- 0
[b]CÀ PHÊ- CUỘC CỜ[/b]
[img]xq123-0.jpg;right;Mũi Né[/img]Theo chân một người bạn cũng là một kỳ thủ có “máu mặt” trong làng cờ huyện nhà, tôi mới có dịp “xâm nhập” vào “đấu trường” của giới kỳ thủ đất Phan Rí. Anh bạn tôi cho biết: “Ở Phan Rí, nếu mở quán cà phê mà không có bàn cờ tướng thì coi như bị… ế”. Vòng qua các con phố Trần Hưng Đạo, Thống Nhất, Hàm Nghi… để “thị sát” tôi thấy quán nào cũng đông đúc, nhộn nhịp người, họ tụm năm, tụm bảy vừa uống cà phê vừa chơi cờ. Phan Rí có hàng chục quán cà phê-cờ hoạt động liên tục cả ngày lẫn đêm. Chơi cờ ở quán có cái thú vui của nó, dân “ghiền” cờ thì khỏi phải nói, còn ai mới tập tành thì rất dễ bị cuốn hút đến “quên ăn, mất ngủ”. Quán là “võ đài” để các kỳ thủ gặp nhau “so găng” tranh tài cao thấp, đồng thời cũng là nơi giao lưu, gặp gỡ, trao đổi với nhau những chuyện làm ăn, những thế cờ tuyệt mỹ…
Quán Hữu trên đường Quang Trung, không rộng lắm nhưng được bố trí những dãy bàn nhựa khá kỹ thuật, tôi đếm có trên hàng chục kỳ thủ đang tích cực “chiến đấu”. Dưới cái nóng gay gắt của vùng khô hạn, những gương mặt như căng ra, mồ hôi ướt đẫm đang cố sức nghĩ suy tìm những thế cờ “thâm hiểm” hòng hạ gục đối thủ, tôi mới thật sự cảm phục niềm đam mê của họ. Quán Ánh đường Hàm Nghi cũng chật kín người, náo nhiệt trong cái không gian mịt mù khói thuốc lá, tiếng leng keng muỗng khuấy cà phê, tiếng cốc, bộp của những quân cờ, lời bình luận, cái chậc lưỡi… khi ai đó lạc nước, thua cờ. Thấy tôi uống cà phê một mình, anh bạn bàn bên cạnh kéo ghế lại gần nói: “Tôi với anh làm vài ván cho vui”. Tôi hưởng ứng ngay, nhưng chỉ sau chục nước, tôi đã bị thua cuộc. Anh cho biết: “Mình là dân lao động biển, có khi đi làm cả tháng mới về, ghiền cờ ghê lắm, về nhà là đến quán ngay”. Dân Phan Rí ai bận đi làm thì thôi, còn nếu rảnh thì hầu như đều đi quán uống cà phê-chơi cờ. Làm quen với K, một kỳ thủ có hạng cho biết: “Sáng ra quán uống ly cà phê, đánh vài ván cờ cho vui rồi đi làm, nhưng lúc gặp độ là chơi tới bến luôn. 3-4 người xoay vòng “chiến đấu” ai thua thì ra, cà phê, thuốc lá, nước uống, cơm hộp… đều được phục vụ tại bàn cờ”.
Phan Rí Cửa có dân số 37.000 người, trong đó lao động biển chiếm khoảng 2/3 tổng số lao động. Làng cờ Phan Rí hội tụ đầy đủ các thành phần từ anh công chức nhà nước đến bác xe ôm, dân lao động biển, người vô công rỗi nghề… nhưng tất cả đều có chung mục đích là sự đam mê và tìm thấy ở đó biết bao nhiêu điều bổ ích, thú vị. Người chơi cờ đông nhưng với tinh thần thể thao, vui là chính, ai tới quán, ngoài uống cà phê đều làm vài ván cờ. Điều đặc biệt ở đây là mọi người chơi đều bình đẳng, không có chuyện đâm chém, đánh nhau vì cờ. Những thói hư tật xấu như cay cú ăn thua, nói năng thô tục, thậm chí coi cờ là phương tiện kiếm tiền, sát phạt, khích bác, thách đố, cá cược với nhau dần bị loại trừ. H một kỳ thủ nói: “Mình làm việc nhà nước nên chỉ có thứ bảy, chủ nhật mới rảnh, những ngày nghỉ mình đến quán”. Vâng, có lẽ những ai có niềm đam mê cờ tướng thì mới hiểu hết cái chất “men say” của nó. Chơi cờ ở quán có cái hay, cái hấp dẫn, ở đây hội tụ các anh tài với những thế trận thuận pháo, nghịch pháo, bình phong mã… Ở quán, không chỉ có người chơi mà rất nhiều người xem nên đã tạo ra chất xúc tác cực mạnh. T một dân “cắm chốt” thường xuyên ở quán, phấn khởi cho biết: “Đến đây hay lắm anh à, lúc trước cờ em tệ lắm, nhưng nhờ xem nhiều rồi học hỏi nên bây giờ trình độ cờ của em tiến bộ lắm”.
[b]TRIỂN VỌNG TƯƠNG LAI[/b]
Tuy Phong, Phan Thiết, Hàm Tân là ba trung tâm cờ tướng lớn của Bình Thuận, kỳ thủ của Phan Rí Cửa đã có mặt trong danh sách A2 dự giải toàn quốc. Phong trào cờ tướng ở Phan Rí Cửa có truyền thống từ lâu đời, thu hút đủ các thành phần tham gia, bởi đây là môn thể thao trí tuệ, rèn luyện trí thông minh, tính kiên trì, sự uyển chuyển và sâu sắc trong phương pháp tư duy thích hợp cho mọi lứa tuổi. Hơn nữa, cờ tướng là môn thể thao mang tính phổ thông đại chúng, ít tốn kém trong đầu tư cơ sở vật chất như các môn thể thao khác. Tuy nhiên, phong trào cờ tướng ở đây vẫn mang tính tự phát mà chưa có sự đầu tư, định hướng của các cấp, các ngành chức năng, người chơi cờ thì nhiều nhưng người hiểu biết luật cờ, tư cách đấu thủ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một năm, giải cờ tướng huyện cũng chỉ tổ chức được có một lần nhưng quy mô nhỏ và số lượng người tham gia ít nên chưa thể xây dựng được nền tảng bền vững.
Thể thao trí tuệ bao giờ cũng có hiệu quả cao, lợi ích rất thiết thực và lớn lao. Phong trào cờ tướng của Phan Rí Cửa rất cần sự quan tâm đầu tư của các cấp các ngành và nếu được đầu tư tốt, cờ tướng Phan Rí sẽ góp phần vào thể thao thành tích cao của tỉnh Bình Thuận trong tương lai.
Hội cờ Xuân Văn Miếu 2006
- Bạn Cờ
- 01/02/2006
- 0
Hội cờ Xuân Văn Miếu năm nay tổ chức từ ngày mùng 2 đến ngày mùng 4 Tết 2006. Chiều mùng 4 Tết có trận chung kết diễn ra trên sân cờ người giữa hai đấu thủ Trần Lập và Chu Triệu Ty. Kết quả cuối cùng ông Trần Lập giành ngôi Quán quân (vô địch), ông Chu Triệu Ty giành ngôi Á quân (nhì) và Ông Nguyễn Duy Đăng giành ngôi Quí quân (ba).
Mời các bạn thưởng thức chùm ảnh (của PHN) và trận đấu này. Ván cờ được ghi lại theo biên bản của ông Nguyễn Duy Đăng.
[img]xq371-0.jpg;center;Văn Miếu Quốc Tử Giám – Hội Xuân – Hội Cờ 2006[/img]
[img]xq371-1.jpg;center;[/img]
[img]xq371-2.jpg;center;[/img]
[img]xq371-3.jpg;center;[/img]
[img]xq371-4.jpg;center;Chen xem bình cờ[/img]
[img]xq371-5.jpg;center;Những người đoạt giải chụp ảnh kỷ niệm với ban tổ chức[/img]
[b]Trận chung kết: Trần Lập đi trước thắng Chu Triệu Ty[/b]
[game]
FORMAT WXF
GAME Chung kết hội cờ xuân Văn miếu 2006
RED Trần Lập
BLACK Chu Triệu Ty
RESULT 1-0
DATE 01-02-2006
START{
1. P2-5 M2.3 2. M2.3 M8.7
3. X1-2 X9-8 4. B7.1 B7.1
5. X2.6 P8-9 6. X2-3 P9/1
7. M8.7 S4.5 8. M7.6 P9-7
9. X3-4 X8.5 10. P8.2 T3.5
DIAG{ #11 RED }
11. P8-9 P2-1 12. P9.3 X8-4
13. P9-8 X1-2 14. X9-8 Tg5-4
15. S4.5 M7.8 16. P5-6 X4-3
17. T7.5 X3.1 18. X4.2 P7.5
19. X8.5 T5/3 20. X4-2 M8/7
21. X2/5 B7.1 22. P8/1 M7.6
23. X8-4 X2.3 24. T3.1 X3/2
25. X4-7 B3.1 26. B9.1 X2.2
27. T5.3 X2-7 28. X2.4 P7-8
29. S5.4 X7.1 30. X2-7 X7-5
31. S4/5 X5-7 32. X7.2 Tg4.1
33. X7/4 Tg4/1 34. X7.4 Tg4.1
35. S5.4 P8/4 36. X7/5 P8-5
37. S6.5 Tg4/1 38. X7-3 X7-1
39. X3-6 Tg4-5 40. M3.4 X1-6
41. M4.6 X6-9 42. M6.5 T7.5
43. X6.2 X9-5 44. X6-9 B9.1
45. T1/3 X5-1 46. X9-5 X1/1
47. X5/1 X1-7 48. T3.1 X7-4
49. X5.2 B9.1 50. P6-5 Tg5-4
51. X5-8 B9.1 52. X8.2 Tg4.1
53. P5-6 X4-5 54. X8/6 B9.1
55. P6-1 X5-9 56. P1.1 S5.6
57. P1-6 X9.1 58. X8.5 Tg4/1
59. P6/2 S6.5 60. X8.1 Tg4.1
61. X8/2 X9-5 62. Tg5-4 Tg4/1
63. X8.2 Tg4.1 64. S5.6 S5.4
65. X8/2 Tg4-5 66. P6.6 X5-4
67. S6/5 Tg5-4 68. P6-7 X4-3
69. X8.1 Tg4/1 70. P7-9 X3-1
71. X8/1 S6/5 72. X8-2 Tg4.1
73. X2-7 X1.3 74. Tg4.1 X1/6
75. X7.1 Tg4/1 76. P9.1 S5.4
77. X7-2 S4/5 78. X2.1 Tg4.1
79. P9-7 X1-3 80. P7-8 X3-2
81. P8-7 X2-3 82. P7-8 S5.4
83. X2/5 X3.1 84. P8/6 X3.2
85. X2-6 }END[/game]