Hai ông bạn đang chơi cờ tướng, bỗng cậu con chạy vào:
– Bố ơi, mất xe rồi!
– Sợ gì, mất xe thì tao đi pháo! Nói rồi tiếp tục gõ quân cờ đánh “Cốp”…
Con: !?!
Trăng Cờ – trang chuyên về cờ
Hai ông bạn đang chơi cờ tướng, bỗng cậu con chạy vào:
– Bố ơi, mất xe rồi!
– Sợ gì, mất xe thì tao đi pháo! Nói rồi tiếp tục gõ quân cờ đánh “Cốp”…
Con: !?!
Như thế rõ ràng cờ tướng không còn chỉ nằm trong phạm vi thi đấu, phạm vi thể thao mà đã chuyển hoà quyện vào đời sống tinh thần, tình cảm của người dân trên mọi miền đất nước dưới dạng văn hóa và nghệ thuật vô cùng lộng lẫy, hùng dũng và đặc sắc. Đó là những sân khấu biểu diễn thực sự.
Nhưng còn hơn thế nữa!
Cờ người chính là sự phô bày một cách khôn khéo sự sung túc, sự viên mãn, tình đoàn kết, trình độ học vấn, văn hóa, đẹp về người tốt về nết như câu ví “trai Cầu Vồng, Yên Thế, gái Nội Duệ, Cầu Lim” của một làng, một xã.
Không phải làng xã nào cũng có thể tổ chức được cờ người. Cái khó không phải ở chỗ không có người mà là để tạo ra một đội cờ người, phải hội đủ hàng loạt yếu tố: Thứ nhất kinh tế phải khá giả, ăn nên làm ra, có của ăn của để, đã tổ chức được cờ người thì phải treo giải cho xứng đáng, ngoài ra còn phải có giải cho các môn khác nữa. Thứ hai là phải có truyền thống về cờ, có người chơi cờ giỏi, am hiểu và có tâm huyết, có những tay Mạnh Thường Quân thực thụ. Thứ ba là con trai, con gái phải xinh đẹp, tuấn tú ngoan ngoãn. Đội quân cờ người phải được cả làng kén chọn bình phẩm. Phải là trai tân, gái tân, gia đình phải đường hoàng tử tế, không có điều tiếng gì với họ hàng làng xóm. Một đội cờ người không phải chỉ có 32 quân cờ mà tối thiểu cũng phải có hơn 40 để có quân dự bị, đó là chưa kể đội ngũ những người huấn luyện, tập tành, những người lo làm đạo cụ cờ phướn, võng lọng, những người khiêng trống đánh chiêng và vào những ngày đội cờ người biểu diễn thì còn có hàng chục người lo trang điểm phấn sáp, cơm nước, hậu cần, tiếp tế. Ngoài ra còn phải chọn được những người bình cờ hay, ứng khẩu đọc thơ giỏi. Thứ tư là lễ hội của làng phải trọn vẹn: có đình chùa hẳn hoi, có rước thần tế lễ, có các loại hình văn nghệ khác như hát Quan họ, hát chèo, giao duyên, có các trò chơi hỗ trợ chơi cờ như đua thuyền, thổi cơm thi, đánh vật, đu tiên… thành một lễ hội hoàn chỉnh, thu hút được khách thập phương, trong đó có các kỳ thủ giang hồ các miền khác về tham gia.
Việc luyện tập cho một đội cờ người là cực kỳ công phu và được sự đồng lòng ủng bộ mọi mặt của toàn thể dân làng. Bạn thử nghĩ coi công việc đồng áng nhà quê có bao giờ ngơi, người nhà quê hầu như tất bật, bận rộn quanh năm, chỉ có mấy ngày tết là được nghỉ ngơi. Con trai con gái trong làng là lao động chính. Muốn có cờ người trước đó hàng tháng phải tranh thủ tập, tập vào những đêm trăng, tập vào lúc sớm tinh mơ. Con trai con gái có sức vóc, có nhiệt tình, có sự thành tâm mới tập nổi. Cả làng phải đóng góp làm bộ quân cờ thuê người viết chữ đẹp để khắc, sơn son thếp vàng cho cả 32 quân trang bị cho đội cờ. Rồi còn nào là các loại áo quần, mũ mão, hài hia, cờ lọng, trống chiêng, ghế bàn, son phấn… không thiếu một thứ gì. Các gia đình làm ăn khá giả thường đứng ra công đức cho đội.
[img]xq371-3.jpg;center;Cả 32 quân cờ đều là “tinh hoa” của làng[/img]
Vào lễ hội, thật ra thiên hạ đi xem cờ người không phải chỉ đơn thuần thưởng thức cờ, xem các kỳ thủ đọ tài cao thấp mà phần đông trong số họ tới để ngắm nét xinh tươi thùy mị của các cô thanh nữ, nét khoẻ mạnh tuấn tú của các chàng trai. Xem cô gái đẹp nhất, hiền ngoan nhất làng được chọn làm Tướng bà và chàng trai đứng đầu trong đám trai được chọn làm Tướng ông. Người ta bình phẩm từng “quân cờ” một. Nhưng có một điều rõ ràng cả 32 quân cờ đều là “tinh hoa” của làng. Cả làng nhìn vào đội cờ của mình mà tự hào, mà sung sướng, mà hãnh diện với khách tứ xứ thập phương.
Ở Hà Nội nhiều năm cứ tới khoảng 25, 26 Tết là ở khu triển lãm Giảng Võ lại tổ chức thi cờ người. Các đội cờ nội ngoại thành kéo về cùng với múa lân múa rồng tạo nên một không khí tưng bừng đón Xuân đón tết của Thủ đô. Sân cờ người là một sân khấu lớn, trên đó biểu diễn cả cờ lẫn cuộc đời. Bạn thưởng thức một trận bóng đá thấy vô cùng hứng thú, ngây ngất bởi vì bạn là người am hiểu bóng đá. Càng am hiểu càng thấy được cái tuyệt diệu trong từng pha bóng xuất thần của các ngôi sao sân cỏ của từng bàn thắng diệu nghệ, của từng cú lội ngược dòng ngoạn mục ở những phút chót của trận cầu.
Cờ cũng vậy. Sân cờ cũng có những niềm vui vô bờ, sự hân hoan tột độ, những nỗi buồn, nỗi phẫn uất, đắng cay… những tình cảm như thế thấm đẫm cả đấu thủ lẫn người xem. Sân cờ cũng có những ván cờ để đời, những giai thoại kỳ thú, những tên tuổi lừng danh, những đoạn đời thăng trầm, những mối thâm giao hiếm có từ thuở để chỏm tới khi đầu bạc răng long. Có những ván cờ làm thay đổi hẳn quan niệm của của một làng, xã. Ông Phạm Văn Tuyển, một kỳ thủ nổi tiếng đất mỏ Quảng Ninh, từng vô địch cờ Tướng miền Bắc kể lại: Quê ông ở một huyện ngoại thành Hải Phòng. Làng ông nghèo, làng bên giàu lắm, người làng ông thường bị người làng bên khinh rẻ, bắt nạt, đến nỗi gà làng khác đem bán được 3 đồng thì gà làng ông chỉ được trả có đồng rưỡi, hai đồng là cùng. Năm ấy làng bên có hội cờ to, thách đố tất cả các làng khác. Khi người làng ấy giật giải quán quân, coi thiên hạ bằng nửa con mắt, lên tiếng huênh hoang. Bà chị ông Tuyển là người hay cờ, nhưng khi đi chợ thường xuyên bị bắt nạt tiến lên tiếng thách lại. Trận cờ người ấy diễn ra thật là long trời lở đất, cả hai làng gần như sống mái với nhau. Rốt cuộc bà cho tay quán quân hợm hĩnh kia thua trắng mắt, giật sạch cả cờ suý, phần thưởng về mình. Từ đó làng bà được đối xử khác hẳn, không chỉ sự mua bán giữa hai làng rất sòng phẳng mà danh giá làng ông còn vượt cả làng bên. Cách gọi xấc xược “con mẹ” đối với chị ông từ đó biến mất,thay vào đó bằng chị” bằng “bà” tử tế (xin xem giai thoại “Ván cờ bà Bo”).
Lại có một làng ngoại thành Hà Nội vốn có truyền thống cờ người, nhưng cách đây khoảng gần 70 năm sau trận cờ thì cậu thanh niên đóng vai Tướng ông bỗng dưng ngã bệnh chết, đến năm sau, cô gái đóng Tướng bà cũng bị tai nạn qua đời, cả làng ấy bèn nguyền rằng không bao giờ tổ chức cờ người nữa. Mãi tới gần đây, lời nguyền ấy mới được giải, làng mới lại khôi phục cờ người.
Nhưng cũng có những điềm lành, như trời định xe duyên chỉ thắm cho những đôi trai tài gái sắc. Ở đội cờ người Liên Hà lừng danh miền Bắc có cô Dung đóng vai Tướng bà vừa đẹp vừa sang, sau giải cờ người ở văn Miếu năm 1999 đã kết duyên cùng anh Bình là người đóng Tướng ông. Nay hai anh chị đã có cháu.
Chúng ta còn ít tài liệu để biết tại các quốc gia lân bang người ta có tổ chức cờ người đa dạng và phong phú như ở Việt Nam ta hay không. Chỉ biết rằng ở Trung Quốc, để thỏa mãn nguyện vọng của một số lượng quần chúng khổng lồ say mê cờ ở một nước đông dân nhất thế giới, người ta bèn tổ chức những trận đấu tại các sân vận động có hàng vạn cổ động viên tới thưởng thức. Như trận đấu giữa Tứ Thiên Hồng và Hồ Vinh Hoa, hai ông mặc hoàng bào, đội mũ hoàng đế, đi hia bịt vàng, chỉ huy một bàn cờ khổng lồ đặt gần kín cả một sân bóng. Những ván cờ như thế mới hùng vĩ, hoành tráng và ấn tượng làm sao, nhất là khi nó được ti vi truyền trực tiếp cho hàng triệu người trên khắp đất nước Trung Hoa thưởng thức. Đó là nghệ thuật, đó là văn hóa chứ không còn đơn thuần là thi đấu thể thao nữa.
Ở châu Âu, châu Mỹ những dạng lễ hội của cờ Vua giống như cờ Tướng có lẽ cũng có nhưng không nhiều. Người ta có thể tổ chức một sân cờ có tới hàng nghìn người cùng tham gia chơi như ở Mỹ, ở Cu ba hay những trận đấu đồng loạt có hàng trăm người tỷ thí, nhưng kết hợp được với lễ hội hay tổ chức thành hẳn một cung đình, có âm nhạc, thơ ca phối hợp nhuần nhuyễn như ở ta thì chưa thấy nói tới.
Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này, người ta nhắc tới anh Hết còn nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp. Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: “Lại coi thằng Hết kìa! Ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương”. Ai mê vợ bé, mê chơi đề, đá gà, họ lườm lườm: “Mê gì như thằng Hết mê cờ”. Nên nghe râm ran chị Hảo để lòng thương anh, má chị kêu trời: “Bộ hết người rồi sao, con. Cái thằng mê cờ tới mất vợ, không sợ?”. Không, chị Hảo nghiêm nghị, cờ tướng là loại cờ tao nhã chỉ dành cho quân tử, có gì mà sợ. Mê rượu, mê gái mới ghệ Chỉ sợ người ta không thương mình. Má chị định càm ràm nữa, thì chị đã quay lưng ra quán mất rồi.
Quán chị Hảo cũng nhỏ thôi, buôn hàng tạp hóa lặt vặt. Quán cất trước nhà, ngó ra mé lộ, có khi không cần ngồi giữ, bà con trong xóm ai muốn mua gì thì gọi vọng vô. Chỉ buổi chiều, chị mới ra ngồi ở đó. Buổi chiều, lúc mặt trời vừa khuất sau vườn chuối anh Hết hay ghé lại để mua 1.000đ mỡ nước, 500đ bột ngọt, 500đ tỏi, 500đ tiêu. Chị cố bán thật rề rà để nhìn anh lâu nữa, coi bữa nay chắc anh đi vác lúa đằng nhà máy chà gạo, trên tóc còn vương trấu. Nhìn vậy thôi chớ không nói gì hết. Con trâu không nói sao cái cọc nói được. Nhưng vẫn cứ đón chờ, có khi sớm, khi muộn hơn một chút nhưng chị biết thể nào thì anh cũng về qua, về để nấu cơm cho tía anh.
Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay: “Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi”. Chừng năm năm trước, ông còn vô bếp nấu cơm, mắt mũi tèm nhèm để lửa táp vô vách lá, nhà cháy rụi. Anh Hết cất lại nhà trên nền cũ đầy tro, nhìn xa nhà lớn hơn miếu ông Tà một chút. Ông già ngồi tiếc cái tivi đen trắng, mỗi lần mở phải đập thùm thùm nó mới lẹt xẹt lên hình. Ông già điếc đát vậy mà mê tivi, cháy rồi thì thôi vậy, chiều chiều chống gậy thả qua nhà hàng xóm coi nhờ.
Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về. Có bữa chờ tới mỏi mòn, để bụng đói ngồi ngủ gà gật. Người ở xóm biểu cứ ăn trước đi chớ chờ gì, anh cười, mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều. Nhưng có bữa, anh mới vừa giở cửa chui vô nhà, ông già đã ngồi nhai cơm cháy, bị nghẹn, mắt ầng ậng nước. Anh thương tía quá chừng vội vàng chạy đi vo gạo.
Anh Hết mồ côi má từ mới lọt lòng. Bà chết vì sinh khó. Ngoại anh đặt tên là Hết. Chắc tại lúc đó đau lòng quá kêu đại vậy, chớ không có nghĩa gì đâu. Anh Hết lớn lên, yêu hết thảy từng con người, từng tấc đất ở cái xóm Giồng Mới. Cái xóm nhỏ ngoại ô biết bao thương nhớ, những bờ rào giâm bụt xanh, những hàng cây đủng đỉnh xanh. Những người đàn ông chuyền tay nhau dỗ dành đứa trẻ thiếu hơi ấm mẹ. Những người đàn bà cho anh bú thép, để con khóc ngoe ngóe trên giường.
Tía anh không đi bước nữa, ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên, “Chớ ầu ơ… Cây khô đâu dễ mọc chồị..”. Chừng này tuổi rồi, mỗi khi anh đặt lưng xuống bộ vạc, lại nhớ ngơ nhớ ngẩn lời hát của tía anh ngày xưa. Buồn lắm, nghe đứt ruột lắm. Càng nhớ anh càng thương ông. Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình. Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ. Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già. Đi cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm.
Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ. Tía đầu bạc rượt thằng con đầu xanh chạy cà tưng đuổi nhau lòng vòng quanh mấy cây me già ngoài mé lộ. Đám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội. Hỏi anh Hết sao không chịu chạy nhanh để bị dính đòn, anh bảo, chạy thì được, nhưng càng nhanh thì tía anh càng mệt, chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì.
Ai nghe nói cũng thương. Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình. Có cái tật mê cờ, mê cũng hết mình.
Người ta nhắc hoài chuyện anh hễ cắm đầu vô bàn cờ rồi quên đói, quên ướt, súng nổ cái đùng cũng coi như không nghe thấy, như là đã thoát tục rồi, bình an, xa rời mọi điên đảo. Thấy con bồ mình đang thương dắt tay chồng tương lai đi sắm sửa đồ cưới mà cứ lo mang xe chiếu tướng, thì đúng là không còn hỉ nộ ái ố gì nữa rồi. Cũng có nhiều người thích đánh cờ nhưng say đến mức coi con cờ như con người thì không ai làm được, ai đời, đi chốt qua sông mà anh khóc, nước mắt chảy ròng. Chị Hảo nhớ, bữa đó hình như đám gả chị Hoài.
Người ta nói chị Hoài đi lấy chồng cũng tại anh Hết mê cờ.
Họ thương nhau từ lúc hai người mới 22, 24 tuổi. Thời đó, tuổi đó, người ta thương không nhìn gia cảnh, địa vị. Tuổi đó, người ta yêu không ngại ngần, không e dè, rà cản, họ để lòng tự nhiên như dòng chảy của sông. Bên nhà chị Hoài biết con gái hay hẹn hò với anh Hết ngoài cống đá thì không vui. Má chị Hoài hỏi sao đâm đầu vô thương chỗ đó, cô hỏi lại: “Anh Hết hổng được chỗ nào hả má?”. “Ừ, tao chê chỗ nào bây giờ, thằng Hết được, hiền, giỏi giang, chịu khó lại hiếu thảo. Nhưng nó nghèo quá, thân sơ thất sở không một cục đất chọi chim, biết có lo cho bây sung sướng được không. Bây quen được tưng tiu mà”. Chị Hoài không cãi ra mặt nhưng bụng nghĩ, còn sức lực còn đôi tay, còn cơ may thay đổi cuộc đời.
Lúc đó, anh Hết vẫn chưa mê cờ. Nhưng anh biết chơi nhờ đi làm bốc vác ngoài nhà máy, mấy ông già chèo đò truyền lại, nức tiếng với mấy chiêu pháo đầu, bình phong mã, công thủ song toàn. Cho tới lúc má chị Hoài lại nhà, không biết nói gì nhưng có khóc. Những giọt nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt già nua của người đàn bà đã từng cho anh bú thép. Sáng hôm sau anh đã thay đổi, nhanh như người ta lật một bàn tay. Anh đam mê cờ tướng. Anh hay na bộ cờ ra ngồi mấy gốc cây bên vệ đường để tìm đối thủ, để ai cũng thấy đúng là thằng Hết bê tha thiệt rồi. Nó không chịu làm ăn gì mà tối ngày nướng thời gian trên mấy con cờ xanh đỏ.
Hồi đó, tía rầy anh dữ lắm. Anh thưa với con, nợ sữa là món nợ lớn nhất đời người. Con đã nợ má em Hoài, tía à. Không biết ông già rồi có hiểu gì tình cảm của tụi trẻ không, ông ừ hử vậy. Nhưng thấy anh ngồi la cà đánh cờ ở đâu, giữa đường cũng vậy, ông vác cây đánh ngay đó. Vừa đánh vừa kêu nhịp nhàng “Xe nè! Chốt! Pháo nè! Bụp! Chiếu hả, thằng ma cà bông, tao chiếu cho mấy đường”. Ông ca cẩm thằng con ông bây giờ tệ bạc lắm chiều hôm qua nó để ông ăn cơm nguội chung với mấy con gián. Ông nói mà giọng ông hơi nghèn nghẹn dường như trong lòng đau nhói lắm. Nuôi nó từ nhỏ tới lớn, bây giờ ông mới đánh nó đây, đánh để giúp nó trả ơn đời. Tối về ông bắt nó nằm cho ông xoa dầu, hỏi bày đặt yêu đương chi mà khổ vậy con ơi. Xóm này người ta không biết nên nói mày hết thuốc chữa rồi. Con tao mà vậy à.
Chị Hoài cũng can ngăn, thuyết phục mãi, tốn không biết bao nhiêu là nước mắt, cuối cùng đành phải bỏ đi lấy chồng. Hôm đám, anh Hết còn tỉnh bơ ngồi ngoài bờ, dưới gốc còng, hào hứng bày cờ ra chơi với mấy đứa nhỏ. Đám bạn gái ai cũng xì xầm, chắc thằng Hết không thương thiệt con Hoài nên mới dửng dưng vậy. Chị Hoài nghe mà khóc không thôi, bảo với chị Hảo, có cái tiếng bạc tình ảnh cũng gánh cho em rồi. Tranh thủ lúc chưa làm lễ, chị Hoài rủ chị Hảo mang cả áo xống chạy ra, nhìn anh như nhìn lần chót, như lấy chồng là chết vậy. Anh Hết dứt khoát không ngước lên. Thôi, không nắm níu gì được nữa rồi, nghe người ta kiếm cô dâu, hai chị quay vào. Đi một đoạn, nghe đám con nít trộ lên, anh Hết sao mà khóc vậy. Đâu có. Có mà, nước mắt anh rớt lên con tướng này nè, đó, nó ướt nhẹp đó thấy chưa. Hết cười lớn, nói lớn: “ừ, tại tao thương con chốt. Qua sông là không mong về”…
Chị Hoài vừa đi vừa khóc. Lời của anh Hết làm chị Hảo thương điếng trong lòng. Con người này, nghĩa biết trọng mà tình cũng thâm.
Anh Hết lại sống như những ngày trước kia lầm lũi đi đào thuê, vác mướn, kiếm tiền nuôi tía. Đôi ba hôm, đi làm về, đã thấy trên cái bếp còn ấm tro một nồi cơm nấu sẵn với một mẻ cá kho khô. Có bữa, mẻ kho đổi lại là nồi canh rau đắng. Rồi anh Hết gặp chị Hoài đi chợ về, thấy bóng anh từ đằng xa, chị lấy nón che một bên má bầm tím. Anh Hết chạy theo, giằng lấy nón mà xót xa:
– Sao nông nỗi vầy, Hoài?
Chị Hoài nói chị té đập mặt vô cạnh cửa nhưng anh Hết không tin: “Hoài ơi, em hạnh phúc, tôi mừng. Hoài cứ như vầy, chắc tôi bỏ xứ”. Chị Hoài khóc, người ta chớ đâu phải con cờ mà hễ qua sông là đứt lìa phần đời trước.
Rồi chị Hoài cũng tập thương chồng, thương không giấu giếm, ào ào như người ta bán thuốc sơn đông. Chị thôi không đứng tần ngần chỗ nhà chú Hết mỗi khi đi chợ về, thậm chí chị không thèm nhìn về phía ấy nữạ Chị Hoài nói với bạn: “Bữa nay đi chợ mua mấy khúc vải về may đồ cho anh Thứ. Ảnh nói mặc đồ chợ cũng được mà tui đâu có chịu, người vợ biết đường kim mũi chỉ lúc nào cũng làm ấm lòng ông chồng, phải hôn nè…”. Giữa đường nói chuyện chồng con mà giọng chị Hoài lanh lảnh, chừng như nhắn với Hết, thôi đừng đi đâu hết, tôi quên anh rồi, quên thiệt, quên luôn, bây giờ tui thương chồng tôi lắm đây. Cho bỏ tội mê cờ, nghen.
Nhưng từ ngày chị Hoài lấy chồng, anh Hết đã không đụng tay vào quân cờ nào nữa. Anh hay ngồi nhìn bàn cờ mặt buồn rười rượi, mấy đứa nhỏ không biết, cứ rủ hoài, ừ thì chơi. Anh biểu tụi nó bày cờ ra, rồi tự đi quân, anh không nhìn, chổng mông vo gạo, một đứa nói vô pháo đầu nghen, anh kêu mã tấn. Tấn chỗ nào? Tấn giữ con chốt đang bị con pháo rình đó, biết còn hỏi. Tụi nhỏ kêu, đây là kiểu “hiệp sĩ mù nghe gió kiếm”, đánh cờ mà làm công chuyện không ngưng tay, nói khơi khơi, cũng thắng.
Lụi hụi rồi bốn mùa gió bấc về kể từ mùa gió chị Hoài lấy chồng. Ba anh Hết thường chống đũa trên mâm cơm than ăn không vô. Anh hỏi ông thèm gì. Ông bảo chắc tao gần chết rồi, tao thèm một thằng cháu nội. Hết lượng sượng mãi mới cười: “Trời, thèm gì ngặt vậy, không biết con biết kiếm đâu cho tía bây giờ”. Tía anh Hết biểu lại đằng quán con Hảo lỡ thời mà kiếm. Mày giả đò hoài, con nhỏ thương mày, ai cũng biết, chỉ mày là không. Anh Hết cãi, làm gì có, tía. Ông già đứng dậy, vậy phải thử. Nói rồi vung gậy đánh. Như mấy lần trước, anh Hết lại chạy lừng khừng ra sân. Rượt chán, ông già dứ dứ cây gậy vô mặt anh rồi tủm tỉm cười quay đi. Ông già còn kịp thấy chị Hảo chạy lại vẹt đám con nít ra, đưa anh chai dầu Nhị Thiên Đường, miệng xuýt xoa hỏi anh đau chỗ nào, giọng như người thân thiết trong nhà: “Làm gì mà để tía giận dữ vậy, lén chơi cờ phải hôn?”. Anh Hết không trả lời, cầm chai dầu còn ướt mồ hôi tay của chị. Đây đã là chai thứ chín chị cho anh, anh khẽ bảo:
– Hảo, tôi… cảm ơn.
Anh ngần ngừ sau chữ “tôi” hơi lâu, làm chị Hảo chờ muốn nín thở. Ơn nghĩa gì một chai dầu gió, nó chỉ làm anh hết đau ngoài da thịt, mà trong lòng thì còn mãi. Chi vậy Hết ơi!
Đâu có biết, chỉ tại chưa quên được. Anh chưa dám nhìn thẳng vô mắt Hoài để cười, chưa dám nựng nịu con của Hoài mỗi khi chị bồng nó đi tiêm ngừa. Chưa thanh thản để chào nhau như một người bạn gặp một người bạn. Hảo có hiểu không?
Hiểu, nên tôi chờ đây nè.
Thêm một mùa gió bấc nữa, chị Hảo vẫn chưa lấy chồng. Ai lại cũng hỏi, chị chờ ai vậy cà. Chị bảo chờ người ta xức dầu Nhị Thiên Đường của chị mà hết đau, chờ người ta đánh cờ mà trong tâm “Viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn”, chờ người ta thôi buồn khi đưa chốt qua sông.
Nhưng mà chờ tới chừng nào lận?
Ai mà biết.
Mùa nay gió bấc hiu hiu lại về.
Chúng ta thử xem chơi cờ thật ra có những ích lợi gì, xét về mặt tổng thể:
[b]Thứ nhất:[/b] Chơi cờ là một thú giải trí, thư giãn. Bạn đang làm việc mệt mỏi ư, hãy để đấy đã, làm một ván cớ, thế là bạn sẽ thấy thoải mái đầu óc. Bạn đang buồn ư, giở bàn cờ ra chơi với ban bè vài ván, bạn sẽ thấy phấn chấn vui vẻ hơn lên. Bạn đang rảnh rỗi, không biết làm gì ư, hãy sắp cờ ra, chơi chăm chú để giết thời gian. Cờ quả là một nguồn giải trí đẩy hứng thú và hấp dẫn. Mà cũng chính do sự hứng thú và hấp dẫn mà con người đến với cờ.
[b]Thứ hai:[/b] Bạn tự tin mình là người tài giỏi, nhất là về mặt trí tuệ, thế thì bạn hãy thi đấu đi, để chứng minh mình là một nhà thể thao trí tuệ tài ba. Cờ là cuộc thi đấu rất sòng phẳng, công bằng. Cuộc đấu sẽ hết sức quyết liệt với kẻ ngang tài, ngang sức và khi giành được phần thắng, bạn thấy hả hê, sung sướng biết bao. Bạn đã tự khẳng định được năng lực, sức mạnh và tài nghệ của bản thân mình.
[b]Thứ ba:[/b] Cờ là nơi sáng tạo nghệ thuật bởi vì mỗi một đòn phối hợp là do sự bài binh bố trận khôn khéo, tài tình, mỗi một nước chiếu là một cú đột phá táo bạo thông minh. Bạn có thể khôn ngoan tạo ra những cái bẫy chết người để đưa đối phương vào tròng và cũng có thể đang bị đối phương vây hãm chết tới nơi mà bất ngờ tìm được kế phản công, lật ngược tình thế, giành thắng lợi trước sự ngơ ngác, choáng ván của đối phương. Cờ quả là một nghệ thuật sáng tạo vô bờ bến. Dù có chơi cả trăm, cả nghìn ván thì vẫn không có ván nào giống ván nào. Cờ là một nghệ thuật biến hóa tới vô cùng.
Những con số thống kê cho thấy những người chơi cờ đều có chỉ số thông minh cao, tiếp thu kiến thức mới nhanh chóng, biết cách giải quyết tốt những vấn đề phức tạp, lắt léo (học sinh chơi cờ thường là học giỏi, nhiều em còn rất xuất sắc).
[b]Thứ tư:[/b] Cờ chống lại được sự trì trệ, chậm chạp của bộ não. Nó giúp cho trí não được thường xuyên làm việc, tư duy sắc sảo, logic hơn, kích thích sự hưng phấn của não chẳng khác nào một loại biệt dược quý báu giúp cho não phát triển và hoàn thiện các chức năng của nó. Như đã nói, não là phần quý báu và quan trọng nhất của con người. Có một bộ óc thông minh không những được mọi người quý trọng mà còn giúp ích rất lớn cho con người suốt cả cuộc đời. Còn nếu anh là người có bộ óc chậm phát triển, đần độn thì đó quả là một tai họa. Trẻ con cần cờ mà người cao tuổi cũng cần cờ để máu luôn lên nuôi não, chống lại sự lão hóa. Cờ cũng là môn thể thao hoàn toàn không bị va chạm hay chấn thương cơ thể dẫn tới tàn tật hay nguy hiểm tới tính mạng.
[b]Thứ năm:[/b] Cờ tạo cho người ta nhiều phẩm chất quý.báu như thói quen kiên nhẫn và bình tĩnh, tập trung tư tưởng, suy nghĩ chín chắn, sâu sắc, không bộp chộp vội vàng. Cờ giúp người ta có tầm nhìn xa vì phải tính trước nhiều nước. Chơi cờ đúng với ý nghĩa đích thực của nó sẽ khiến cho người ta khôn ngoan hơn, uyển chuyển hơn, hài hòa hơn, tinh thần hơn trong cuộc sống. Cờ sẽ hỗ trợ không nhỏ cho nghề nghiệp của bạn hay con bạn sau này, nhất là khi nghề nghiệp đó liên quan tới các hoạt động trí tuệ.
[b]Thứ sáu:[/b] Cờ tạo cho người ta tư cách của một nhà thể thao, một tính cách cao thượng, một con người chân chính: biết thắng một cách trung thực và biết chấp nhận thua một cách đường hoàng. Không thèm “ăn gian” hay dùng các mánh lới xấu. Cờ là sự giao lưu, tiếp xúc với nhiều người. Từ tạo cho bạn cách cư xử lịch sự nhã nhặn. Cũng từ đó ban sẽ kết thân được với nhiều bạn bè ở mọi lứa tuổi, mọi nơi. Bạn bè luôn là một phần quan trọng của cuộc sống chúng ta. Nếu được tham dự các cuộc thi đấu trong nước và quốc tế bạn sẽ được đi tới nhiều miền đất lạ, thăm được nhiều di tích thắng cảnh, mở mang tầm hiểu biết của mình.
[b]Thứ bảy:[/b] Cờ giúp bạn hay con cái, người thân của bạn tránh xa được những tệ nạn xã hội hiện nay như tiêm chích, hút hít, tham gia các loại băng đảng, lêu lổng, “nhàn cư vi bất thiện” làm những việc xấu xa, tệ hại hay vô bổ dẫn tới sự sa ngã, tự đánh mất cả một đời người.
[b]Thứ tám:[/b] Cờ sẽ là một nghề nghiệp xứng đáng nếu bạn luôn chơi xuất sắc để thường xuyên được tham gia các giải quốc tế lớn, các giải siêu hạng, các cúp danh giá… với những giải thưởng rất lớn đủ nuôi sống cả đời bạn. Khi đó bạn sẽ trở thành nhà thể thao chuyên nghiệp và sống trong giàu sang, hạnh phúc như Anand, Kasparov, chị em nhà Polgar hay Lý Lai Quần, Từ Thiên Hồng, Lữ Khâm…