[img]xq367-0.jpg;right;Nguyễn Thành Bảo và chiếc cúp vàng giải trẻ năm 1998 (ảnh VT)[/img]Nguyễn Thành Bảo (Bảo Thái Bình) – người Việt Nam đầu tiên đem được một chiếc cúp vàng cờ Tướng ra khỏi Trung Quốc (giải trẻ 1998), người đã từng làm nhiều Đại Kỳ sư của Trung Quốc phải e dè nể sợ qua các ván đấu xuất thần của anh. Bảo đã làm giới thạo cờ tốn không ít giấy mực về những chiến công cũng như những lúc phong độ thất thường…
Related Posts
Kỳ thủ
- Nguyễn Minh Khôi
- 01/01/2006
- 0
Phước là một tay cờ có hạng ở khu công viên thành phố. Nghe nói trước đây cũng vì mê cờ mà anh ta bị mất việc cơ quan, phải ra ngồi lề đường bán vé số. Tuy đã phải đi bán vé số, nhưng anh ta vẫn không bỏ được tật. Mỗi ngày, anh ta đến chỗ bán hàng thật sớm, vội vội vàng vàng dọn hàng cho xong là bắt tay ngay vào việc đánh cờ. Gọi là dọn hàng cho oai chứ thật ra chỉ là đem vé số bày ra trên mặt một cái bàn nhỏ, dùng đinh ghim lại theo từng xơry rồi lấy hai sợi dây chun ràng lại cho gió khỏi bay. Kế đó là lấy phấn viết kết quả các số trúng ngày hôm trước lên một tấm bảng nhỏ rồi đặt trước bàn, hướng về phía người đi đường.
Bao giờ cũng vậy, trong lúc anh ta còn đang lui cui làm những công việc ấy thì thế nào cũng có một, hai người xuất hiện, lên tiếng rủ rê:
– Làm hai ly cà phê chớ hè?
– Làm thì làm, ngán chi!
Vừa trả lời anh ta vừa cố làm nốt những việc dở dang rồi hớn hở chạy vào bên trong tường rào lấy ra một cái bàn và hai chiếc ghế nhựa nhỏ, thế là đã có ngay một cuộc cờ.
Phải nói là Phước có một kiểu đánh cờ rất vui vẻ, vừa điệu nghệ vừa trang nhã nên có rất nhiều “bạn hàng” thuộc đủ thành phần: người đi đường, khách mua vé số, bảo vệ công viên, ngay cả nhiều người làm việc ở ủy ban phường hoặc các cơ quan, doanh nghiệp gần đó mỗi khi rỗi việc cũng thường đến chơi một vài ván.
Phước không bao giờ đánh không. “Đánh là phải có giải!”. Anh ta giải thích. Nhiều thì năm, mười nghìn, ít thì vài điếu hước. “Thắng thua không quan trọng, cốt là để học nước cờ với nhau” anh ta thường lửa đùa nửa thật bảo vậy. Thường thì anh ta hay thắng chứ hiếm khi bị thua. Đôi lúc cao hứng, anh ta thường tự xưng mình là “Độc cô cầu bại” từ biệt danh của một cao thủ võ lâm trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, có nghĩa là người mong được một lần bại trận dưới tay kẻ khác.
Một hôm, Phước đang chơi cờ với một người quen thì có một người đứng bên cứ “gà” mãi, làm cho hai ván cờ lẽ ra anh ta thắng thì lại bị hoà, mà lại hòa trong thế yếu! Bực mình, Phước rủ người ấy: Có rảnh thì đánh với mình một ván chơi!
– Đánh thì đánh. Người ấy vừa cười vừa ngồi xuống.
Lúc đầu mỗi ván đánh năm nghìn, người ấy thua liên tiếp hai ván. Đến ván thứ ba, đánh mười nghìn, người ấy cũng thua nốt. Sau đó vì trời tối, hai bên đồng ý ngừng đánh.
Chiều hôm sau người ấy trở lại, hai bên tiếp tục quần thảo với nhau. Tuy cuộc cờ diễn ra khá căng thẳng, nhưng Phước cũng thắng tiếp hai ván, chỉ cách nhau một nước tiên! Đến ván thứ ba, người ấy đề nghị nâng lên hai mươi nghìn. Phước lưỡng lự, suy nghĩ không biết đây có phải là dân câu độ không, nhưng rồi Phước nghĩ lại, mình là dân bán vé số, ai thèm câu độ mà làm gì, chẳng qua là “tức nước cờ” thôi. Vả lại mình cũng đã thắng mấy ván, nếu thua thì cũng chỉ hòa vốn. Nghĩ vậy nên Phước đồng ý với điều kiện đó là giới hạn tối đa, không bao giờ nâng lên nữa. Ván cờ diễn ra quyết liệt, hai bên vờn nhau từng nước đi hiểm hóc, nhưng cuối cùng Phước cũng giành được phần thắng, cũng chỉ cách nhau có một nước tiên! Thế là từ ấy, hai người gần như say cờ với nhau. Ngày nào người ấy cũng đến, cũng đánh cờ với Phước, tuy có ăn qua ăn lại, nhưng cuối cùng bao giờ người ấy cũng thua hai hoặc ba ván. Đến độ lâu ngày thành lệ, mỗi khi thấy người ấy xuất hiện, Phước đều kín đáo đem hết vé số còn lại gửi sang hàng bên cạnh, vì anh tính rằng nếu bán được một trăm tờ vé số thì cũng chỉ kiếm được hai chục nghìn, nhưng nếu thắng được hai hoặc ba ván cờ thì đã có thể kiếm được bốn hoặc sáu chục nghìn! Mà làm sao Phước, “Độc cô cầu bại” của khu vực công viên, lại không thắng được nhỉ? Trong vòng hơn nửa năm, ngày nào người ấy cũng đến, cũng chơi cờ và cũng đều thua. Cho đến một hôm, người ấy nói với Phước rằng:
– Nước cờ của anh cao quá, tôi đánh mãi mà vẫn không thắng được. Nay có lẽ phải về nghiên cứu thêm, hẹn dịp khác gặp lại.
Từ đó người ấy không lần nào trở lại nữa, và Phước cũng ngày càng “Độc cô” hơn. Nhiều lúc nhớ lại, Phước cứ tiếc mãi, phải chi thỉnh thoảng mình nhường cho vài ba ván để “giữ khách” thì có lẽ cái “kho báu trời cho ấy” đã không vỗ cánh bay đi. Tiếc thì tiếc vậy, nhưng thật lòng Phước vẫn nghĩ rằng không thể nào mà nhường được, bởi đánh cờ cũng như cầm quân ra trận, đã đánh là phải quyết thắng.
Xuân năm ấy, thành phố tổ chức giải cờ tướng mở rộng có sự tham gia của nhiều danh thủ trong cả nước. Phước đăng ký thi đấu, vượt qua vòng loại vào đến trận tứ kết. Giữa lúc Phước đang tràn đầy khí thế thì gặp phải một danh thủ cấp kiện tướng quốc gia đến từ thành phố Hoa Phượng và bị anh ta hạ nốc ao hai ván trắng! Thế là tan tành giấc mộng kỳ vương bấy lâu ấp ủ… Càng nghĩ Phước càng thấy thấm thía lời dạy của người xưa: “Người giỏi còn có kẻ khác giỏi hơn”.
Chiều mồng bốn Tết, Phước đến trung tâm văn hóa thành phố xem trận chung kết. Đây là trận đấu hứa hẹn nhiều sôi nổi, được giới chơi cờ háo hức chờ đợi.
Một trong hai đối thủ chính là người đã thắng Phước trong trận tứ kết, còn người kia thì Phước chỉ nghe tiếng mà chưa hề biết mặt. Khi trận cờ khai cuộc, Phước như không còn tin ở mắt mình, người kia không phải lai xa lạ mà chính là người đã thua Phước liểng xiểng trong suốt sáu, bảy tháng trước. Vậy mà anh ta lại vào đến tận trận chung kết, thật là kỳ lạ. Ván cờ này được ban tổ chức minh họa thành ván cờ người, khí thế rất là sôi động. Cờ xí bay rợp trời, tiếng trống trận dồn dập, tiếng quân hò reo di chuyển, trông chẳng khác gì một trận đánh thời xưa. Sau gần một giờ đồng hồ quần thảo, thế trận đi dần vào tàn cục. Mỗi bên còn một xe, một pháo và một mã, nhưng bên đỏ, do người chơi cờ với Phước cầm quân, nhờ dám mạo hiểm phế một quân Pháo nên đã giành được thế thượng phong, cuối cùng chiếu bí đối phương với sát thế “đơn Xa, Mã điền hãm thượng tướng”. Đây là một ván cờ quá độc đáo, khiến Phước hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Nhưng có điều làm Phước suy nghĩ mãi mà vẫn không nghĩ ra là tại sao một người cao cờ như người ấy hoàn toàn có khả năng chấp nửa Mã hoặc ba nước tiên mà lại…
Nhân buổi liên hoan kết thúc giải dành cho những người từ vòng tứ kết trở lên, Phước không kìm được thắc mắc, kẻo người ấy ra một góc rồi ngại ngùng hỏi:
– Vì sao anh lại thả tôi trong suốt một thời gian dài như vậy?
– Có gì đâu – Người ấy cười hì hì, cầm tay Phước nói nhỏ – Một lần tôi mua của anh ba tờ vé số, may mắn trúng được độc đắc, định biếu anh mười triệu nhưng lại sợ ồn ào, thành ra cứ phải đưa từ từ như vậy. Đợi cho Phước bớt há hốc mồm vì ngạc nhiên, người ấy cười cười nói tiếp: Vả lại, tôi cũng thích phong cách đánh cờ của anh. Nếu chịu khó nghiên cứu thêm, anh sẽ là một kỳ thủ có hạng!
Kể từ ấy, người ta không còn thấy Phước chơi cờ nữa. Nếu có ai hỏi, anh chỉ cười cười trả lời: “Đang nghiên cứu”…
Cờ Tướng Khai cuộc cẩm nang: Qui ước và ký hiệu
- Trần Tấn Mỹ, Lê Thiên Vị, Phạm Tấn Hoà, Quách Anh Tú
- 15/03/2006
- 0
Qui ước và ký hiệu
Hội cờ TpHCM đã xuất bản một số sách cờ Tướng mạnh dạn sử dụng những qui ước, ký hiệu để nội dung phong phú, được đông đảo bạn đọc hoan nghênh. Nay phố biến quyển tư liệu này cũng xin dùng qui ước, ký hiệu đó đế ít tốn giấy mà thông tin được nhiều điều. Do một số bạn chưa nắm rõ nên ở đây xin nhắc lại những qui ước ký hiệu này. Đồng thời qua ý kiến đóng góp của một số bạn, chúng tôi bố sung thêm một số điểm mới và hướng dẫn cách xem cho những bạn chưa nắm rõ cách trình bày của chúng tôi.
[b]1. Bàn cờ[/b]
Các hình vẽ bàn cờ trong sách được qui ước: phía dưới thuộc về bên Trắng, phía trên thuộc về bên Đen
[FEN popup=0 text=0]9/9/9/9/9/9/9/9/9/9[/FEN]Hệ thống tọa độ vẫn giữ như cũ, tức là các lộ thông dùng vẫn được đánh số thứ tự từ 1 đến 9 và tính từ phải sang trái (Xem hình).
[b]2. Quân cờ[/b]
Dù thực tế quân cờ có mang màu gì thì trong thuật ngữ cờ Tướng ta vẫn qui ước một bên là quân Đen và một bên là quân Trắng. Quân Trắng luôn luôn đi trước còn quân Đen đi sau.
[b]3. Ký hiệu[/b]
[b]A. Về quân cờ:[/b]
Các quân cờ được ghi tắt bằng những chữ như sau:
– Tướng: T
– Sĩ: S
– Tượng: T
– Xe: X
– Pháo: P
– Mã: M
– Binh (Chốt): B
[b]B. Chữ viết tắt:[/b]
– trước: t (như Xe trước: Xt)
– sau: s (như Pháo sau: Ps)
– giữa: g (như Binh giữa: Bg)
[b]C. Về đi quân:[/b]
– Tấn: (.) dấu chấm (như Xe 2 tấn 6: X2.6)
– Bình: (-) dấu ngang (như Pháo 8 bình 5: P8-5)
– Thoái (Thối): (/) gạch xéo (như Mã 6 thoái 4: M6/4)
[b]D. Về đánh giá khen, chê:[/b]
– Nước đi hay: !
– Nước đi tuyệt hay: !!
– Nước đi yếu: ?
– Nước đi sai lầm: ??
– Nước đi hay nhưng còn phải xem lại: !?
– Nước đi dở nhưng không hắn thật dở: ?!
– Thế cờ bên Trắng ưu hơn bên Đen: +-
– Thế cờ bên Trắng hơi ưu một chút: + =
– Thế cờ bên Trắng thắng: 1-0
– Thế cờ bên Đen ưu hơn bên Trắng: -+
– Thế cờ bên Đen ưu hơn mót chút: = +
– Thế cờ bên Đen thắng: 0-1
– Thế cờ ngang ngửa, cân bằng: =
– Thế cờ còn phức tạp, chưa rõ ai hơn, kém: ∞
– Thế cờ hai bên hòa nhau . 1/2-1/2
[b]Lưu ý của Bạn cờ:[/b]
Chúng tôi đã sửa đổi lại một số Qui ước – ký hiệu cho phù hợp với các qui định mới của Luật cờ Tướng. Chúng bao gồm:
*Mầu quân: nguyên bản bên đi tiên là Đen, bên đi hậu là Trắng – sửa ngược lại thành đi tiên là Trắng, đi hậu là Đen
*Quân Binh (Tốt): nguyên bản được gọi là quân Chốt, viết tắt là C.
Vài nét về nguồn gốc cờ Tướng
- Diệp Khai Nguyên
- 09/02/2006
- 0
[i]Chúng tôi xin giới thiệu với bạn chơi cờ bài viết của Kiện tướng Diệp Khai Nguyên dựa trên tài liệu của Trung Quốc về vấn đề này. Nhiều người Trung Quốc có quan điểm trái ngược với [topic id=381]quan điểm chung của phương tây (cho rằng cờ Tướng có nguồn gốc từ Ấn Độ)[/topic] và khăng khăng (hoặc tìm mọi cách chứng minh) nó cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Có lẽ bạn đã có chính kiến riêng. Nhưng cũng vì vậy những tài liệu khảo cứu như của Diệp Khai Nguyên sưu tầm này càng thêm quý, càng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn.[/i]
[b]Cờ Tướng ra đời ở đâu? Ở thời đại nào? Có liên quan gì với cờ Vua?[/b]
Đó là những câu hỏi mà người hâm mộ rất muốn tìm hiểu. Các nhà nghiên cứu đã bỏ ra nhiều công sức để tìm ra câu trả lời. Tuy vậy cho tới nay, có một điều được phần đông chuyên gia thừa nhận là: cờ Tướng xuất xứ từ Trung Quốc trong khi cờ Vua có nguồn gốc từ một loại cờ cổ của Ấn Độ, xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 6, được truyền bá sang Iran rồi sang châu Âu và phát triển thành cờ Vua như ngày nay. Vậy là hai loại có có nguồn gốc khác nhau nhưng lại có những điểm tương đồng như cách đi của một số quân. Dĩ nhiên không loại trừ trường hợp đã từng có những mô hình tượng trưng cho chiến trường cổ đại cùng được hình thành từ nhiều miền đất khác nhau và mang những đặc điểm riêng biệt. Trong quá trình tiến triển của lịch sử, do sự hoà nhập, giao lưu đã hình thành hai loại cờ Tướng phương Đông và cờ Vua phương Tây cùng có những điểm giống nhau.
[b]Cờ Tướng, theo Hán văn gọi là Tượng kỳ[/b]
Tượng có nghĩa là hình tượng, tượng trưng chứ không có nghĩa là quân Voi (Tượng) trên bàn cờ. Theo các văn kiện lịch sử và các văn vật được phát hiện thì cờ Tướng xuất hiện từ thời Chiến Quốc (từ năm 403 đến 221 trước công nguyên) mà tiền thân là “Lục bác kỳ”, một loại cờ rất thịnh hành ở thới kỳ đó, được tác phẩm “Chiêu hồn” của văn nhân Tống Ngọc đề cập tới với từ “Tượng kỳ”. Nếu đúng như vậy thì cờ Tướng đã có trên hai nghìn năm lịch sử. Nhưng có thể khẳng định rằng cờ Tướng lúc đó chỉ mới có mô hình sơ khởi chứ chưa phải loại cờ Tướng mà chúng ta chơi ngày nay.
Đặc biệt cờ Tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí là quân Pháo được bổ sung từ thời nhà Đường (sau năm 618) là quân cờ ra đời muộn nhất trên bàn cờ Tướng bởi cho tới thời đó con người mới tìm ra vũ khí “pháo” sử dụng trong chiến tranh: đó là loại máy móc thô sơ dùng để bắn các viên đá to. Trong một thời gian dài quân Pháo trong chữ Hán viết với bộ “thạch”. Cho tới đời Tống (năm 960 – 1276) khi phát minh ra loại pháo mới mang thuốc nổ thì quân Pháo mới được viết lại với bộ “hoả”.
Điều lý thú nhất là theo các tài liệu lịch sử, cờ Tướng ở thời Đường được gọi là Tượng hý (du hý, trò chơi) có đặc điểm là quân cờ lập thể, bàn cờ có 8 x 8 = 64 ô vuông xen kẽ hai màu trắng đen, giống hệt bàn cờ Vua hiện nay! Loại bàn cờ này đã được để lại trên các bức tranh dệt “Cầm, Kỳ, Thi, Họa” thời Đường. Tại Uyên Ương trì, Vĩnh Xương tỉnh Cam Túc, Trung Quốc người ta cũng phát hiện dạng bàn cờ này trên các vật dụng bằng sứ cổ đại với 64 ô. Nhiều ý kiến cho rằng loại bàn cờ này rất hợp với các con số mà nhiều học thuyết thuộc nền văn minh Trung Hoa thường đề cập đến như “Thái cực, Lưỡng nghi, âm dương, Tứ tượng, Bát quái, Lục thập tứ ngao”…
Trong khi đó theo sách khoa toàn thư Great Britain” thì trước thế kỷ 13, người châu Âu sử dụng loại bàn cờ 64 ô cùng màu! Như vậy lịch sử cờ Tướng, cờ Vua ra sao? Cho tới nay các nhà nghiên cứu chưa có đồng luận điềm. Nhưng có một điều có thể gọi là chung: Cờ Tướng hiện đại được hoàn chỉnh vào đời Tống. Các quy định về bàn cờ, quân cờ rất hợp với cơ chế quân sự thời đó: Tướng soái ở trong dinh chỉ huy, có Vệ Sĩ túc trực, Binh chốt có 5 quân đúng với luật “ngũ nhân vi ngũ” (5 người một ngũ, ngũ có nghĩa là đội ngũ). Điều này đã được ghi chép lại trong nhiều tác phẩm đại Tống như “Quảng Tượng kỳ đồ” của Triều Vô Cửu, “Đả Mã đồ kinh” của Lý Thanh Chiếu, bài thơ “Tượng dịch” của thi sĩ Lưu Khắc Trang. Cuốn kỳ phổ đầu tiên về cờ Tướng hiện đại là “Sự Lâm Quảng ký” của Trần Nguyên Tĩnh ở thời kỳ cuối đời Tống (cách đây hơn 700 năm) trong khi tác phẩm đầu tiên về cờ Vua được xuất bản tại Tây Ban Nha vào năm 1495.
[img]xq362-0.jpg;center;Một loại cờ cổ đại của Trung Quốc[/img]
[i](Theo tài liệu “Trung Quốc Tượng kỳ niên giám”)[/i]