Có vẻ như cờ vua bắt nguồn từ người Ai Cập cổ đại, thông qua một tranh vẽ mà các nhà khảo cổ phát hiện được trong một Kim tự tháp.
[img]xq616-0.jpg;center;[/img]
Trăng Cờ – trang chuyên về cờ
Có vẻ như cờ vua bắt nguồn từ người Ai Cập cổ đại, thông qua một tranh vẽ mà các nhà khảo cổ phát hiện được trong một Kim tự tháp.
[img]xq616-0.jpg;center;[/img]
1 – Hơn chục năm nay, vào dịp Tết Nguyên đán hoặc những ngày lễ hội lớn, người dân TPHCM lại có dịp thưởng thức các màn biểu diễn cờ người. Tuy nhiên, nguồn gốc trò chơi dân gian độc đáo này vẫn chưa có tài liệu nào xác định rõ ràng. Có giả thiết cho rằng cờ người du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc thời xa xưa, còn theo nhiều người kể lại, cờ người xuất hiện tại nước ta vào khoảng thời nhà Lê. Lâu đời nhất có lẽ là hội cờ ở chùa Vua (Thịnh Yên, Hà Nội) – nơi vẫn đang thờ thần cờ Đế Thích hoặc Văn Miếu cũng thường biểu diễn cờ người trong những ngày đầu Xuân…
[img]xq358-0.jpg;right;Biểu diễn cờ người tại TPHCM[/img]Thực chất của cờ người là sự minh họa những ván cờ hay của các cao thủ thường được tổ chức tại sân đình hoặc một khu đất rộng rãi nào đó mà mọi người có thể đến thưởng ngoạn. Có 2 hình thức minh họa cờ người: một là ván cờ quy ước dựa theo các nước đi của một ván cờ nổi tiếng được ghi lại và hai là ván cờ không quy ước minh họa trực tiếp từng nước đi của quân cờ do 2 kỳ thủ đang thi đấu. Tất nhiên, loại hình sau hấp dẫn và thú vị hơn.
2 – Ở phía Bắc, BTC hội cờ thường tuyển chọn 16 thanh niên khỏe mạnh và 16 cô gái xinh đẹp, nết na tượng trưng cho 32 quân cờ. Cờ tướng là môn nghệ thuật tài hoa nên khi 2 kỳ thủ đấu trí ngay tại sân cờ thì các quân cờ cũng di chuyển nhịp nhàng với những điệu múa, câu hò đối ứng rộn rã. Mỗi quân cờ ngồi trên một chiếc ghế có lọng, tàn che. Khi một quân cờ nào đó bị bắt thì người thủ diễn rời ghế ra khỏi sân để quân cờ thắng thế chỗ. Một nét khác biệt tại miền Nam – võ thuật là nội dung không thể thiếu khi biểu diễn cờ người.
Khởi đầu, các quân cờ diễn võ mang tính ước lệ như các tuồng hát trên sân khấu rồi từng bước cải biên thành một cuộc biểu diễn võ thuật thật sự. Xu hướng này đã được 2 võ sư Võ cổ truyền Việt Nam – Lê Văn Vân (võ phái Sa Long Cương) và Hồ Tường (võ phái Tân Khánh Bà Trà) – phối hợp nghiên cứu, dàn dựng vào khoảng cuối thập niên 80. Đội cờ người của 2 ông từng lưu diễn ở nhiều tỉnh miền Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long và ra đến Huế. Vài năm gần đây, một số tỉnh, thành phía Nam như thị xã Hội An (Quảng Nam) đã tổ chức cờ người theo cách thức vừa nêu hoặc tại Festival Huế 2004, cờ người cũng xuất hiện tại Nghinh Lương Đình thu hút đông đảo người xem.
Để đảm nhiệm tốt vai trò của mình, các quân cờ người đều có quá trình luyện võ vài năm. Ngoài cờ vàng lọng tía, trang phục quân cờ cũng phải rực rỡ để khán giả dễ dàng phân biệt hai bên. Thông thường, mỗi quân cờ mặc áo có thêu tên quân cờ trước ngực và sau lưng áo (một vài nơi ở phía Bắc, người diễn cầm bảng tên quân cờ), đầu vấn khăn. Tướng có thể đội mão… Song song đó, tùy theo tên quân cờ mà người thủ diễn có thể mang các loại binh khí khác nhau.
Khi phát thanh viên xướng lên nước cờ của kỳ thủ trên kỳ đài thì quân cờ cũng di chuyển theo các thế tấn, đấm đá, kết hợp với nhào lộn… Mỗi thế bắt quân là một hiệp đấu quyền cước hoặc binh khí (có quy ước) khoảng 1 phút tại “sông” trong tiếng trống thúc quân dồn dập… Đặc biệt, các cuộc biểu diễn cờ người ở đất Sài Gòn còn có phần bình cờ do một số thành viên Liên đoàn Cờ TPHCM (Quách Anh Tú, Lê Thiên Vị, Hoàng Đình Hồng, Trần Công Lâm, Nguyễn Bá Hùng) đảm trách để giúp khán giả thưởng thức những thế cờ hay.
3 – Tết tại TPHCM có nhiều nơi tổ chức biểu diễn cờ người như: Hội hoa Xuân Tao Đàn, Trung tâm Văn hóa Q.1, Q.4, Q.7, Gò Vấp, Tân Bình, Nhà Bè, Cung Văn hóa Lao Động, khu du lịch Suối Tiên… do 3 đội cờ người Nhà Văn hóa Thanh Niên TPHCM, Nhà Thiếu nhi Q. 4 và Trung tâm TDTT Nhà Bè thực hiện… Bên cạnh đó, đội Nhà Văn hóa Thanh niên còn có buổi công diễn tại công viên Biên Hùng (TP. Biên Hòa, Đồng Nai) và Trung tâm TDTT thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) góp phần giúp người hâm mộ bộ môn cờ và võ thuật vui Xuân bổ ích, lành mạnh đồng thời bảo tồn một vốn quý của văn hóa dân tộc.
[b]Điều 1: MỤC ĐÍCH CỦA MỘT VÁN CỜ[/b]
Ván cờ được tiến hành giữa hai đấu thủ, một người cầm quân Trắng, một người cầm quân Đen. Mục đích của mỗi đấu thủ là tìm mọi cách đi quân trên bàn cờ theo đúng luật để chiếu bí Tướng (hay Soái) của đối phương, giành thắng lợi.
[b]Điều 2: BÀN CỜ VÀ QUÂN CỜ[/b]
[b]2.1 Bàn cờ:[/b]
Bàn cờ là một hình chữ nhật do 9 đường dọc và 10 đường ngang cắt vuông góc tạ 90 điểm hợp thành. Một khoảng trống gọi là sông (hay hà) nằm ngang giữa bàn cờ, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau. Mỗi bên có một cung Tướng hình vuông so 4 ô hợp thành tại các đường dọc 4, 5, 6 kể từ đường ngang cuối của mỗi bên, trong 4 ô này có vẽ 2 đường chéo xuyên qua (hình a).
[img]xq174-0.x-png;center;Hình a: Bàn cờ và các khu vực trên bàn cờ[/img]
Theo quy ước về in ấn, bàn cờ được đặt đứng. Bên dưới là bên Trắng (đi tiên), bên trên là ben Đen (đi hậu). Các đường dọc bên Trắng được đánh số từ 1 đến 9 từ phải qua trái. Các đường dọc bên Đen được đánh số từ 9 tới 1 từ phải qua trái.
[b]2.2. Quân cờ:[/b]
Mỗi ván cờ lúc bắt đầu phải có đủ 32 quân, gồm 7 loại chia đều cho mỗi bên gồm 16 quân Trắng và 16 quân Đen. 7 loại quân có ký hiệu và số lượng như sau (hình b):
[img]xq174-1.x-png;center;Hình b: Quân cờ[/img]
Giá trị và hoạt động cảu Tướng và Soái, của Binh và Tốt là như nhau, tuy ký tự khác nhau như Tượng, Sĩ , … (hình b).
Quy định quân cờ Tướng chỉ có hai màu là Trắng và Đen. Các văn bản ghi chép đều thống nhất dùng hai màu này. Các loại quân cờ hiện nay được chơi có nhiều màu. Nếu là 2 màu Đỏ và Xanh thì Đỏ được coi là Trắng, Xanh là Đen. Còn với các màu khác thì quy ước màu nhạt là Trắng, màu sẫm là Đen.
Trên sách báo, quân nào chữ đen trên nền trắng được gọi là quân Trắng, quân nào có chữ trắng trên nền đên được gọi là quân Đen.
Đấu thủ cầm quân Trắng được đi trước
[b]Điều 3: XẾP QUÂN KHI BẮT ĐẦU VÁN ĐẤU[/b]
Khi bắt đầu ván đấu, mỗi bên phải xếp quân của mình theo quy định trên các giao điểm như hình c
[img]xq174-2.x-png;center;Hình c: Vị trí xếp quân ban đầu trên bàn cờ[/img]
Trong sách báo, phải trình bày bàn cờ thống nhất như ở điều 2.1.
[b]Điều 4: ĐI QUÂN[/b]
4.1. Quân cờ được xếp tại các giao điểm và di chuyển từ giao điểm này sang giao điểm khác theo đúng quy định cho từng loại quân.
4.2. Nước đi dầu tiên của ván cờ thuộc bên Trắng, sau đó đến bên Đen và luân phiên thứ tự đó cho đến khi kết thúc ván cờ.
4.2.1. Mỗi nước đi, mỗi bên chỉ được di chuyển một quân đúng theo quy định.
4.2.2. Nếu đấu trực tiếp một ván thì phải bốc thăm chọn người đi trước. Nếu đấu hai hoặc nhiều ván thì bốc thăm quyết định người đi trước ván đầu, sau đó thay phiên nhau cầm quân Trắng, Đen. Thi đấu theo hệ vòng tròn, mỗi ván căn cứ vào số (còn lại là mã số, ấn định cho mỗi đấu thủ trước khi bắt thăm) cảu đấu thủ trong bảng để xác định ai là người được đi trước.
Thi đấu theo hệ Thụy Sĩ thì mỗi vòng đấu đều phải sắp xếp lại theo nhóm điểm, màu quân và bốc thăm theo quy định (xem chương VI)
4.3. Cách đi từng loại quân quy định như sau.
a) Tướng (hay Soái): mỗi nước được đi một bước ngang dọc tùy ý nhưng chỉ trong cung Tướng. Hai Tướng (Soái) không được đối mặt nhau trực tiếp trên cùng một đường thẳng. Nếu đối mặt, bắt buộc phải có quân cảu bất kỳ bên nào đứng che mặt.
b) Sĩ: Mỗi nước đi từng bước một theo đường chéo trong cung Tướng.
c) Tượng: Mỗi nước đi chéo hai bước tại trận địa bên mình, không được qua sông. Nếu ở giữa đường chéo đó có quân khác đứng thì quân Tượng bị cản, không đi được (xem hình d)
[img]xq174-3.x-png;center;Hình d: Minh họa nước cản Tượng: Tượng Đen bị Pháo Trắng cản nên không đi tới được điểm 4 mà chỉ có thể tới vị trí 1, 2, 3[/img]
d) Xe: Mỗi nước được đi dọc hoặc đi ngang, không hạn chế số bước đi nếu không có quân khác đứng cản đường.
e) Mã: Đi theo đường chéo hình chữ nhật của hai ô vuông liền nhau. Nếu ở giao điểm liền kề bước thẳng dọc ngang có một quân khác đứng thì Mã bị cản, không đi được (hình e)
[img]xq174-4.x-png;center;Hình e: Minh họa nước cản Mã: Mã Trắng bị Pháo Đen cản nên tới được các vị trí 1, 2, 3, 6, 7, 8 nhưng không thể tới vị trí 4 và 5[/img]
g) Pháo: Khi không bắt quân, mỗi nước đi ngang, dọc giống Xe; khi bắt quân đối phương thì trên đường đi giữa Pháo và quân bị bắt buộc phải có một quân khác bất kỳ đứng làm “ngòi”. Pháo không có ngòi hay có hai ngòi trở lên thì không được quyền bắt quân đối phương.
h) Tốt (Binh): Mỗi nước đi một bước. Khi chưa qua sông Tốt chỉ được tiến. Khi Tốt đã qua sông được quyền đi tiến và đi ngang, không được phép lùi.
[b]Điều 5: BẮT QUÂN[/b]
5.1. Khi một quân đi tới một giao điểm khác đã có quân đối phương đứng thì được quyền bắt quân đó, đồng thời chiếm giữ vị trí quân bị bắt.
5.2. Không được bắt quân bên mình. Được phép cho đối phương bắt đầu quân mình hay chủ động hiến quân mình cho đối phương, trừ Tướng (Soái).
5.3. Quân bị bắt phải bị loại và bị nhấc ra khỏi bàn cờ.
[b]Điều 6: CHIẾU TƯỚNG[/b]
6.1. Quân của một bên đi một nước uy hiếp để nước tiếp theo chính quân đó hoặc quân khác bắt được Tướng (Soái) của đối phương thì gọi đó là nước chiếu tướng. Bên bị chiếu Tướng phải tìm cách chống đỡ ứng phó, tránh nước chiếu Tướng. Nếu không sẽ bị thua ván cờ. Khi đi nước chiếu Tướng, bên đi có thể hô “chiếu Tướng!”hay không cần hô cũng được. Tướng bị chiếu từ cả bốn hướng (bị chiếu cả từ phía sau)
6.2. Ứng phí với nước chiếu Tướng.
Để không thua cờ, bên bị chiếu Tướng phải ứng phó theo các cách sau:
a) Di chuyển Tướng sang vị trí khác để tránh nước chiếu.
b) Bắt quân đang chiếu.
c) Dùng quân khác cản quân chiếu, đi quân che đỡ cho Tướng
[b]Điều 7: THẮNG CỜ, HÒA CỜ VÀ THUA CỜ[/b]
7.1. Thắng cờ: Trong một ván cờ, đấu thủ thắng cờ nếu:
a) Chiếu bí được Tướng đối phương.
b) Khi Tướng (hay Soái) của đối phương bị vây chặt hết nước đi và các quân khác của đối phương cũng không thể di chuyển được thì tuy chưa bị chiếu hết, đối phương vẫn bị tuyên bộ thua cờ.
c) Chiếu Tướng đối phương mà đối phương không chống đỡ cho Tướng mình được.
d) Đối phương không đi đủ số nước quy định trong thời gian quy định.
e) Đối phương tới chậm quá thời gian quy định để bắt đầu ván đấu.
g) Bất kể tình huống nào, đối phương dùng một quân chiếu mãi hoặc dùng nhiều quân thay nhau chiếu mãi, thì phải thay đổi nước di, nếu không bị xử thua.
h) Đối phương phạm luật cấm, còn bên này không phạm luật, bên phạm luật không chịu thay đổi nước đi.
i) Khi mở niêm phong tiếp tục ván hoãn, nếu bênh niêm phong ghi sai nước đi mà không giải thích được thì bị xử thua. Nếu đấu thủ có lượt đi ghi sai nươc đi trong niêm phong nhưng đối phương bỏ cuộc thì cả hai đều bnị xử thua.
k) Đối phương tự tuyên bố xin thua.
l) Đối phương vi phạm luật bị xử thua.
m) Đối phương không ghi 3 lần biên bản mỗi lần gồm 4 nước liên tục.
n) Đối phương mắc lỗi kỹ thuật 3 lần, mắc lỗi tác phong 3 lần.
o) Đối phương vi phạm các trường hợp bị xử thua cụ thể trên các thế cờ (xem chương V)
7.2. Hòa cờ khi gặp các tình huống sau đây:
a) Trọng tài xét thấy ván cờ mà hai bên không thể bên nào thắng, tức là cả hai bên không còn quân nào có thể tấn công đối phương để chiếu bí được Tướng đối phương.
b) Hai bên đều không phạm luật cấm và đều không chịu thay đổi nước đi.
c) Hai bên cùng một lúc phạm cùng một điều luật cấm (như đuổi bắt quân nhau…)
d) Một bên đề nghị hòa, bên đối phương đồng ý thì ván cờ mặc nhiên được công nhận là hòa.
e) Một bên đề nghị hòa, sau khi trọng tài kiểm tra mỗi bên đi đủ 60 nước mà không có một nước bắt quan nào thì ván cờ được xử hòa.
f) Khi một bên đang vào thế bị chiếu hết, bị vây chặt không còn nước đi thì không được phép đề nghị hòa.
g) Các trường hợp cụ thể về hòa cờ, thể thức hòa cờ và các thế cờ hòa xem Điều 24 ở chương V của luật này.
Ở Hà Nội có những kỳ thủ rất giỏi chơi cờ tàn, như ông Nguyễn Tấn Thọ là một ví dụ. Có một hôm ông Thọ cho đăng báo một thế cờ tàn. Do lỗi ấn loát, phần bài giải bị đăng nhầm một nước nên thế cờ thành ra chưa có lời giải. Anh em bạn cờ hỏi ông. Ông chưa kịp nói thì có người đề nghị chưa giải vội, cứ để nghĩ xem sao. Mấy tháng trời vẫn không có ai nghĩ ra. Người nọ truyền người kia đến tai Bùi Khắc Hưởng. Vốn là người chơi thạo cờ tàn nên hôm sau anh đến nói đã giải xong. Anh bầy bàn cờ định giải thì lại có người bảo: cứ để đấy đã. Đằng đẵng hàng tháng trời thế cờ đó vẫn là câu đố bí hiểm.
Chuyện đến Phạm Quốc Hương. Anh là kiện tướng trẻ hàng đầu Hà Nội. Anh nói: chỉ cần giải trong 15 phút!
Bùi Khắc Hưởng nói: cho cậu một tháng, nếu giải được thì có thưởng. Quả vậy, Hương về nhà vò đầu nghĩ không ra. Bốn lần Hương cho là đã giải xong đến gặp Hưởng đều bị Hưởng đỡ hòa (thế cờ tàn bên đi trước phải thắng). Rất nhiều bạn cờ cứ tưởng mình giải được đến gặp Hưởng lại ỉu xìu vì giải sai.
Trong hội quán cờ Tướng có một tay cờ trẻ, vóc dáng thư sinh được anh em gọi là Hồng vệ binh. Cậu ta vẫn bị Bùi Khắc Hưởng chấp 3 nước. Nghe nói có thế cờ tàn khó, Hồng vệ binh tuyên bố chỉ một đêm là giải xong. Bùi Khắc Hưởng nghe xong thách: cứ cho thời hạn hai năm đi! Hồng vệ binh “cáu sườn” về nghĩ hai đêm. Cậu ta ra giải và anh em hết sức bất ngờ: lời giải tuy dài nhưng cuối cùng… giải được! Cờ Tướng đôi khi vẫn có những chuyện ly kỳ như thế. Cao thủ hàng đầu Hà Nội nghĩ cả tháng không ra trong khi tay cờ trẻ, ít kinh nghiệm lại tìm ra lời giải. Chuyện đó chứa đựng một nguyên lý đơn giản: tập trung cao độ đột phá tư duy thì nghĩ nhiều ra nước. Ai quên điều đó thì chưa thể chạm tay vào huy chương giải cờ toàn quốc.