Chưa phân loại

Quyết đấu với tâm không (3)

Trời chưa sáng hẳn, Phạm Xảo đã mang trà vào cho Trí Hải. Thói quen pha trà buổi sáng vẫn không có gì thay đổi. Chỉ khác một Phạm Xảo trong vai người lão bộc pha trà cho chủ thì giờ đây hai người đối ẩm. Khác với mọi ngày, hôm nay Phạm Xảo mặc đồ chàm quần ngắn ống, áo ngắn tay của con nhà võ. Râu cạo nhẵn nhụi, tóc búi gọn được nhuộm màu tiêu muối nên trông trẻ trung và oai nghi như một vệ sĩ xế tuổi trung niên. Trí Hải nhìn Phạm Xảo, bình luận một cách thú vị:

– Trẻ trung và oai vệ thế này thì e “huynh” sẽ biến thành “đệ” mất thôi!

Phạm Xảo nói một cách nghiêm trọng:

– Hàn Kỳ Vương đã biến ngày đấu cờ thành một ngày hội lớn. Giới phú thương người Hoa từ Bắc chí Nam đã chung góp tiền bạc để ủng hộ cho phe nhà của họ. Tất cả đều sẵn sàng để mở đại tiệc ăn mừng thắng trận không một mảy may nghi ngờ tại Thái ấp này. Trong lúc phía bên kia dốc hết sức người, sức của lo cho trận đấu, thì bên ta chỉ có người nườm nượp đi xem. Tôi phải ở sát cạnh hoàng thân để bảo vệ.

Uống xong ba bốn tuần trà trong sự lặng im từ khi có mùi hoa ngọc lan tỏa hương mai. Nắng đã lên cao. Mặt trời sẽ gác bên kia đầu núi và chiều về. Giờ quyết đấu điểm.

Trí Hải ái ngại nhìn Phạm Xảo. Sự đợi chờ căng thẳng làm cho những đường gân trên trán, trên mặt viên lão tướng muốn bứt ra thành suối, thành dòng, thành tiếng nói. Phạm Xảo ngạc nhiên đến sững sờ nhìn Trí Hải vẫn với tập Đường Thi trên tay với dáng vẻ thản nhiên và tươi cười như đã quên trận thư hùng sống mái đang đợi. Thơ phú ích gì cho buổi ấy.

Hai bên bờ sông Hương người đi như hội. Người ta cố lấn ra gần gần bờ, nơi có bốn chiếc đò đại bản kết thành bè trên sông. Ít người đi xem biết Trí Hải là ai, nhưng chỉ biết là “người đó phe ta” thôi thì cũng đủ cho lửa nhiệt tình bốc cháy. Người ta la hét, xô đẩy nhau, chạy rần rần bao vây cả một vùng bến sông khi Trí Hải và Phạm Xảo xuống đò ngang để lên bè nổi neo giữa sông. Người cầm tay Trí Hải sau cùng trước khi đò rời bến là Lê Trung Ẩn, thủ lãnh sĩ phu Bắc Hà và cũng là đương kim thượng thư bộ Hình trong lục bộ của triều đình. Lê Trung Ẩn ngỏ lời, không ai rõ là hỏi hay dặn:

– Có cần giăng lưới trên sông Hương không?

Trí Hải chỉ thoáng cười, nhìn rất sâu vào mắt người đối diện mà không nói gì. Thuyền rời bến trong tiếng reo hò, cổ vũ của biển người đứng hai bên bờ.

Bốn chiếc thuyền lớn kết lại thành một hòn cù lao nhỏ và được neo cẩn thận trên sông. Trời không mưa nhưng mây mù u ám và nước bạc trên sông cuồn cuộn chảy. Cả một vùng được trang hoàng rực rỡ. Nền thuyền trải thảm Ba Tư với màu sắc được tuyển chọn khéo léo. Khung thuyền treo đèn lồng mỹ thuật. Mui thuyền phủ gấm Thượng Hải ngũ sắc. Ngay chính giữa, trên chiếc bàn gỗ mun đen tuyền bóng loáng, bàn cờ và quân cờ đã sắp sẵn nhưng tất cả đều được phủ kín dưới một lớp gấm đỏ thêu hoa văn màu hoàng kim lóng lánh.

Trong trận “đại kỳ quyết đấu” nầy sẽ không theo mô thức đấu cờ thông thường là có tổng số ván cờ theo số chẵn như hai, bốn, sáu… mà toàn bộ cuộc đấu sẽ có 3 ván cờ. Nếu cả 3 ván đều hòa thì trận đấu sẽ tiếp diễn cho đến khi có một bên thắng. Trận cờ sẽ được diễn ra theo một luật lệ khắt khe về nhiều mặt.

Luật thời gian.

Một ngày và một đêm tính từ nửa đêm, giờ Tý đến buổi trưa giờ Ngọ ngày hôm sau. Đêm có 5 canh, ngày có 6 khắc. Mỗi khắc dài bằng một vạn tiểu khắc. Tiếng chuông báo hiệu thời gian cho ván cờ và tiếng khánh báo hiệu thời gian cho nước cờ.

Mỗi nước cờ không được kéo dài 100 tiểu khắc. Mỗi khắc được đếm bằng một giọt nước đỏ từ một bình cao rơi xuống một bình thấp. Người quản lý thời khắc phải đếm công khai. Sẽ có một tiếng khánh vàng đánh lên báo hiệu giữa giờ khi nước giọt đến khắc thứ 50, hai tiếng đánh lên đến khắc thứ 90 và ba tiếng báo hiệu hết giờ. Người suy nghĩ quá giờ không được quyền đi tiếp và phải nhường cho phía đối thủ.

Luật xử hòa.

Ván cờ sẽ đương nhiên coi như được xử hòa trong ba trường hợp sau:

– Luật về số nước đi: Khi tổng số nước đi của ván cờ là 200.

– Luật về nước đi có tác dụng: Không kể những nước đuổi và chiếu cũng như những nước để đối phó với những nước đuổi và chiếu, tổng số nước đi là 100.

– Luật về nước đi có tiến triển: Khi tổng số nước đi kể từ lần cuối cùng ván cờ có tiến triển là 20. Điều kiện được coi là ván cờ có tiến triển khi hoặc là có quân bị bắt hay tốt đã sang sông tiến lên một bước.

Luật công bình.

Chiếu dai và đuổi dai là vi lệ. Phía vi lệ sẽ bị xử thua. Nếu một bên vi lệ chiếu dai và bên kia vi lệ đuổi dai thì bên chiếu dai sẽ bị xử thua. Khái niệm về “dai” được minh định là chiếu hoặc đuổi quá 5 nước liên tục với 1 quân cờ, 10 nước liên tục với 2 quân cờ và 15 nước liên tục với 3 quân cờ.

– Chiếu liên tục đối phương bằng một hay nhiều quân cờ của mình là vi lệ.

Ban hành luật có 5 vị, người đứng đầu là chưởng kỳ. Ban giám khảo có 5 vị, người đứng đầu là chủ khảo. Ngoài ra ban hộ kỳ cũng có 6 người. Hai người có nhiệm vụ ghi chép trên văn bản và 2 nữ, 2 nam có giọng tốt đại diện cho mỗi bên có nhiệm vụ hô to lên công khai ngay sau khi mỗi quân cờ được di chuyển để xác định dứt điểm một nước đi, đồng thời công bố cho kỳ chúng, là những người đang theo dõi trận đấu, biết được diễn tiến của trận cờ.

Hàn gia đã bày biện bao nhiêu hình thức biểu diễn và trang trí cho cuộc đấu cờ. Đây không chỉ là cuộc đấu cờ tay đôi giữa Trí Hải và Hàn Kỳ Vương mà còn mang một ý nghĩa xa hơn là cuộc đấu trí giữa hai nước chư hầu và thống lĩnh. Bộ cờ tinh huyết thạch của Hàn gia phải tồn tại và mục đích cuối cùng phải đạt được, cho dù phải lòn trôn hay thí quân huyết chiến với địch thủ như thủy tổ Hàn Tín năm xưa.

oOo

Trận cờ khai diễn với những thủ tục trình diễn rườm rà chưa từng thấy. Nhưng rồi cuối cùng vị chưởng kỳ với khăn chít áo dài cũng tới hồi trang trọng hai tay nâng lớp gấm điều bọc bàn cờ gia bảo của Hàn gia. Mọi người như cùng “ồ” lên một tiếng để tán dương vẻ đẹp rực rỡ của bàn cờ. Mỗi quân cờ quả là một tác phẩm kỳ tú của thiên nhiên và con người. Đá tinh huyết chỗ trong như pha lê, chỗ trắng ngần, chỗ đen thẳm, chỗ lóng lánh như trân châu mã nảo. Nhưng tuyệt tác hơn tất cả là những đường gân đỏ thắm như máu đào chạy quanh. Những đường gân đỏ linh động biến hiện lung linh như đang sống, đang trổ nhánh, nẩy mầm. Vẻ đẹp mê hồn của loài đá tinh huyết làm cho lớp lớp đèn lồng ngũ sắc và màn trướng trang trí lộng lẫy mờ nhạt hẳn đi sau một màn sương cảm giác.

Từ khi được trao bộ cờ gia bảo, Hàn Kỳ Vương có một niềm tin mạnh mẽ rằng, với một hình thức lễ nghi mở màn trận đấu đầy tính kỳ bí của tôn giáo và đặc biệt là vẻ thu hút mê hồn của bộ cờ, phía đấu thủ khách đã bị lung lạc tinh thần và bị chinh phục từ phút đầu tiên.

Đối mặt với Trí Hải trên bàn cờ lần này, Hàn Kỳ Vương cảm thấy niềm tự tin từ bao lâu nay của mình bị dao động mạnh. Vương quen chờ đợi một đối thủ xốc nổi, ồn ào hay thâm trầm, kín đáo; có khi là một đối thủ mưu lược, nguy hiểm. Nhưng chưa bao giờ Vương gặp một đối thủ thản nhiên gần như vô tâm trong giây phút mở đầu như thế. Vẻ mặt bình thản và phong thái trầm tĩnh của Trí Hải trong giây phút cực kỳ nghiêm trọng nầy khó ai lường được những gì đang chất chứa sau lớp chắn bên ngoài. Trí Hải ngồi nhìn bàn cờ với cái trí của một đấu thủ đã sẵn sàng nhưng với cái tâm của một gã lang thang bên cạnh người đốt than trong rừng. “Đừng dính mắc!” lời nhắn vói sau cùng của gã tiều phu vẫn đang vang vọng trong tâm trí của Trí Hải. Không dính mắc với quá khứ, hiện tại và tương lai. Không dính mắc giữa ta và người. Không dính mắc với thua và được.

Khi người chưởng kỳ lên tiếng thông báo thủ tục bốc thăm tranh nước đi tiên. Trí Hải ngỏ lời mời Hàn Kỳ Vương đi trước. Trong một ván cờ quyết đấu của các danh thủ xưa nay, người đi trước vừa có ưu thế khống chế cuộc cờ vì nhanh hơn một nước, vừa có cơ hội triển khai chiến thuật tấn công thần tốc ngay từ hồi khai cục. Bởi thế, quan điểm “tiên hạ thủ vi cường” thường được áp dụng triệt để trong cờ tướng để “tranh tiên”. Tranh tiên là giành trước một nước cờ. Tranh tiên là chiến lược sinh tử của phép tiến công. Nếu phải đi sau thì phải giành cho được “bình tiên”, nghĩa là phải rán giữ cho được thế ngang ngửa, ngang nhau. Các nhà chiến lược tranh cờ gọi là “diệu thủ tranh tiên” vì tranh tiên có nhiều mưu kế, thủ đoạn: Phối hợp để bắt quân địch. Thí quân để tranh cho được thế. Có khi phải tàn sát quân phòng ngự để xâm nhập vào bản doanh bắt tướng… chiến thuật và chiến lược biến ảo khó lường với những chiêu thức tuyệt diệu. Thế nhưng Trí Hải lại không một mảy may quan tâm đến thế tranh tiên.

Ba hồi trống lệnh cáo với Trời; chín tiếng chiêng đồng tạ với đất. Phường bát âm nổi lên trong giây lát rồi im bặt. Có tiếng hô của chưởng kỳ: “Xuất quân!” Trận cờ bắt đầu. Hàn Kỳ Vương run run đặt tay lên quân cờ gia bảo mà suốt năm qua không tìm ra đối thủ để hành quân. Kỳ Vương nhìn trời lâm râm khấn vái, hít một hơi dài để thu hết tinh lực sông núi làm sức mạnh, nhíu mày chú mục, mím chặt môi đầy quyết đoán để đi quân cờ khai cục. Có giọng nam của hai hộ kỳ phía Hàn Kỳ Vương hô lên đĩnh đạc:

– Pháo 2 bình 5.

Một vài giây im lặng đợi chờ và giọng nữ hộ kỳ phía Trí Hải lại vang lên lảnh lót:

– Mã 8 tấn 7.

Giọng nam lại vang lên hầu như tức khắc:

– Mã 2 tấn 3.

Nữ:

– Xa 9 bình 8.

Nam:

– Xa 1 bình 2…

Hàn Kỳ Vương thủ lợi việc đi trước, vận dụng khai cục loại hình tấn công gấp, tức là pháo đầu liên hoàn kẹp mã trực xa và hoành xa.

Trí Hải đã nhìn thấy rõ chiến thuật tiến công của Kỳ Vương đến nước thứ 10 là phải dàn cho được kiểu trận Pháo đầu liên hoàn kẹp Mã. Hàn Kỳ Vương cố lèo lái cho toàn bộ cục diện đi vào bài bản của trận địa đã dàn ra như xông tốt đầu, tiến xe đè mã, nhảy mã đánh tượng, chuyển pháo thúc sát, phát huy cao độ uy lực hùng hậu của pháo đầu liên hoàn kẹp mã…

“Hỏng!”

Dư âm giọng nói đầy kiêu bạt của gã đốt than và cuộc đối thọai trong chiều chia tay lại vang lên: “Làm sao để khỏi hỏng? Tìm cái mới! Cái mới từ đâu? Từ trong cái cũ nhưng thoát ly cái cũ. Bằng cách nào? Đừng dính mắc!”

“Đừng dính mắc!” Kiếp người đã bị dính mắc và nhắm mắt từ trong bào thai cho đến khi nhắm mắt lần cuối cùng cũng vẫn còn bị dính mắc. Tiếng nói xa xăm lại cuốn hút hồn Trí Hải. Đến nước thứ năm, Trí Hải ngồi trơ như cái xác. Tiếng khánh báo hiệu giữa giờ, 50 khắc đã trôi qua, 50 giọt nước đỏ nhắc nhở Trí Hải phải tức khắc trở về với thực tại. Một chút chao động trong lúc nầy cũng đủ làm lạnh cả linh hồn. Hàn Kỳ Vương hơi băn khoăn nhìn Trí Hải thương hại. Đã có bao nhiêu đấu thủ lạc hồn, bạt vía, hay ngất xỉu trước khi ván cờ kết thúc. Lẽ nào một Trí Hải nổi danh của đất thần kinh lại yếu đuối đến thế sao?

Hai tiếng khánh báo hiệu 90 khắc trôi qua. Trí Hải bỗng sực tĩnh. Chỉ còn mười giọt nữa. Nhỏ xuống đi, ơi những giọt thời gian yêu dấu chết người!

Một giọt nữa. Giọt 91. Trí Hải cảm thấy cả tâm trí của mình đều bùng vỡ. Một giọt nữa. Giọt 92. Trí Hải thấy rõ cả khối suy tưởng của mình bứt hết biên cương và mở dài ra tới cõi mênh mông. Một giọt nữa. Giọt 93. Cả bàn cờ trước mắt hiện ra đầy sinh động như có cả vạn cuộc đời thu nhỏ lại giữa biển không gian và thời gian thành thau nước lạnh… Giọt 95 Trí Hải trở về ngay với thực tại và cấp tốc điều quân. Chỉ một đôi nước cờ biến ảo làm thay đổi thế cờ nhanh chóng. Có những lúc Trí Hải mở lối cho những quân cờ tấn thối một cách đơn giản gần như bâng quơ. Hàn Kỳ Vương kinh hoảng nhìn vào mắt Trí Hải nhưng chẳng thấy dấu hiệu gì khác thường cả, nhưng tại sao lại đi một nước cờ rồi tiếp nối những nước cờ quá lạ lùng như thế. Ngớ ngẩn thì không hẳn mà tuyệt chiêu lại càng vô lý. Càng phản ứng, Hàn Kỳ Vương càng nao núng. Những tượng hùng, pháo tống, xe xuyên, mã tốc… đều như trốn biệt hay rình rập đâu đây để tung những đòn chí mạng. Trí Hải di chuyển những quân cờ theo một cách thế mà xưa nay trong các danh thư kỳ phổ chưa từng nghe nói đến.

Không bị giới hạn tầm mắt bởi biên giới của rào dậu bên nầy và hào lũy bên kia, cái nhìn của Trí Hải thoáng đạt và dàn trãi đến vô cùng. Khi tâm thức không còn bị đè nặng và buộc chặt vào những hệ lụy của bảng thang giá trị lẫn trong rêu mốc vì đã quá cũ càng, tầm nhìn sẽ bay cao ngoài bốn cõi. Lúc đó sẽ như người đứng trên chóp núi Kim Phụng nhìn về đồng bằng kéo dài tận biển. Những ao hồ, sông rạch, cây cối, nhà cửa , đền đài, lăng miếu… hiện ra rõ nét giống bức họa đồ thu gọn trong tầm mắt. Có những quân cờ ở một vị thế vừa ẩn vừa hiện của một con hươu sao khôn ngoan nấp sau triền đá dốc. Vị thế để tự vệ, sống còn và qui ẩn trong cuộc đời thường sẽ tương đương với những vị thế chiến lược trên bàn cờ. Với cái tâm rỗng lặng và cái trí mênh mông, Trí Hải có được cái nhìn trí tuệ thiên thâu qua cuộc cờ đang diễn ra trước mắt. Trí Hải như đang đồng cảm và giao hòa với những quân cờ “sống” của cả hai phía.

Hàn Kỳ Vương quả thật là không hổ danh với vị trí “kỳ vương” mà người đời trao tặng. Một nước đi có hơn mười “nước biến” theo sau. Nhưng chiến lược tấn công thần tốc mang tính đối công quyết liệt của Hàn Kỳ Vương chưa vào đến trung cuộc đã từ từ chững lại. Tài ba quán chúng đầy uy vũ của Kỳ Vương dựa vào một chuổi phản ứng có điều kiện. Chiến thuật của Trí Hải là “vô môn quan”, dựa vào tinh thần hóa giải để đỡ những đòn sấm sét làm cho đối phương như đánh vào khoảng không. Sức tấn công càng hung hãn, sự hụt hẫng càng quay cuồng chóng mặt. Vẻ yên ắng trên bề mặt “tịnh nhi bất thối, động nhi bất tấn” tạo một phản ứng ngược cho những đòn vọng động.

Hàn Kỳ Vương thuộc lòng châm ngôn của nghệ thuật đấu cờ là: Nhìn và đợi. Nhìn diễn biến của trận thế và đợi sơ hở của đối phương để chớp thời cơ tiến công tranh thắng. Địch lùi ta truy đuổi. Thành trì phòng ngự chưa kín ta thúc quân vây hãm. Địch bị vây bó tay ta tung hoành xung trận. Trong binh thư của Tôn Tử có nhấn mạnh: “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng; biết mình mà không biết người, một thắng một bại; không biết mình cũng chẳng biết người, trăm trận trăm bại.” Hàn Kỳ Vương bó tay không biết Trí Hải đang đi chiêu thức gì mà ông ta hoàn toàn không hiểu được. Và sự hoang mang đột biến cũng làm cho Kỳ Vương không hiểu mình là ai và có được khả năng gì để ứng phó với một tình huống quá mới mẻ như vậy.

Đi cờ mà bị động cũng như người xiếc đu dây: Lắc lư, chao đảo, bất định. Cả trăm lần thành công nhưng sự sẩy chân thất bại đột biến lại có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Đến nước thứ 32 của ván cờ đầu, Hàn Kỳ Vương ngồi yên bất động. Một chiến trường vang rền xe ngựa biến đâu mất. Cảnh tên bay đạn lạc chỉ còn gió lạnh trên sông. Chốn gió tanh mưa máu lãng đãng mây mù. Trí Hải đi thêm một nước nữa. Hai đối thủ ngước lên nhìn nhau. Hàn Kỳ Vương tròn mắt nhìn sửng Trí Hải. Cờ hết nước. Một ván cờ hoà!

Ván cờ thứ hai, Trí Hải đi tiên. Hàn Kỳ Vương và mọi người nín thở chờ đợi. Những danh thủ cờ tướng xưa nay vẫn dùng chiến thuật khai cục thuộc ba loại hình phổ biến nhất: Loại hình tiến công, loại hình phòng thủ và loại hình đối công. Các kỳ thủ cao cấp vận dụng chiến thuật khai cục thường nắm vững yếu lĩnh và thông triệt tổng quan chiến lược của cả ván cờ. Nước tiên giành được trong hồi khai cục sẽ được duy trì và phát huy đến trung cục, tàn cục và tiếp diễn cho đến thắng lợi sau cùng.

Trí Hải xuất quân theo một thế trận hoàn toàn mới mẻ. Ông mở rộng cửa thành nghênh đón quân của Hàn Kỳ Vương lẫm liệt tiến vào tấn công như vũ bão. Bằng những nước đi công, thủ tế nhị, tính toán kềm hãm và giữ chân để đưa quân của địch vào trùng vây mà không hung hãn tiêu diệt với sự khéo léo tuyệt diệu của thế bảo quân, trữ lực trong binh pháp “dẫn mà không phát, tích trữ sức lực để động mà không động”. Đến nước thứ 32. Lại số 32! Hàn Kỳ Vương chững lại. Một tình huống chung cuộc hoàn toàn giống ván cờ thứ nhất lập lại:

“Một chiến trường vang rền xe ngựa biến đâu mất. Cảnh tên bay đạn lạc chỉ còn gió lạnh trên sông. Chốn gió tanh mưa máu lãng đãng mây mù…” Hàn Kỳ Vương dốc toàn lực tiến công. Các chiến thuật nghi binh, chọc sườn, bọc hậu, xung kích trực diện… đều được tận dụng, nhưng thành quách và quân sĩ của Trí Hải vẫn an trú trong vị trí của mình, chỉ phản công khi tối cần thiết. Trung cuộc, sức tiến công của Hàn Kỳ Vương chững lại, rồi đứng yên. Cờ không còn nước. Lại thêm một ván cờ hoà!

Tiếng reo hò cuồng nhiệt của phe Hoa kiều và phe người Việt chen chân bên bờ, trên bến, dưới thuyền từ từ im bặt với kết quả hai ván cờ hòa đã đi qua.

Khi ván cờ thứ ba và cũng là ván cờ quyết định sau cùng khai cuộc thì sự khích động của quần chúng lại cuồng lên. Người ở xa, ao ước được nhìn tận mắt nét cảm xúc trên mỗi khuôn mặt của hai đại kiện tướng trong giây phút cập kỳ bên bờ vực. Thế nhưng người ở gần lại thất vọng và lấy làm lạ khi nhìn Trí Hải với vẻ mặt thản nhiên và lặng lẽ chẳng khác gì ngày thường khi uống một ly trà buổi sáng. Cuộc cờ trước mắt không đủ bề thế chinh phục để lay động người đàn ông nầy hay ông ta là hiện thân cho sự trơ vơ của một hòn đá núi vững chãi. Mưa bão vô thường dập vùi trên đá đến và đi không lưu dấu vết. Hàn Kỳ Vương cũng cố giữ bản lĩnh thao lược của mình với khuôn mặt nghiêm trọng, trầm tĩnh, nhưng những đường gân trên tay, trên mặt căng phồng; những đường nhăn trên trán loang loáng mồ hôi phản chiếu qua ánh đèn màu trong gió lạnh cuối mùa thu là tấm gương chiếu rọi cái tâm đang dấy động. Hai ván cờ hòa với những thế cờ kỳ lạ đến độ nghịch lý của Trí Hải làm Kỳ Vương nao núng và bồn chồn khi ra quân khai cục cho ván cờ định mệnh cuối cùng nầy. Hàn Kỳ Vương thừa tinh tế để nhận thấy Trí Hải đã làm chủ tình thế trong cả hai ván cờ hòa. Trí Hải như đã nắm hết nội tình và lộ trình chuyển quân của cả đôi bên, có thể triệt đường, chắn lối đối phương bất cứ khi nào muốn, nhưng vẫn đóng vai của kẻ đứng ngoài.

Ván cờ chót không diễn ra quyết liệt và gay cấn như mọi người ước đoán. Kỳ thủ mỗi bên đều lắng sâu vào vùng chiến lược của mình. Đêm xuống chỉ còn ánh đèn ngũ sắc. Những quân cờ càng rực lên ánh sáng chói lòa. Mỗi mảnh sáng có một điệu múa lân tinh riêng làm cho người không quen chóng mặt. Hàn Kỳ Vương vui sướng cảm tạ hồng ân của dòng dõi Hàn gia đã gìn giữ được bộ cờ gia bảo có một không hai trên trần gian nầy. Trí Hải đăm đăm nhìn những quân cờ “lên nước”. Những màu sắc huy hoàng dữ dội của đội “kỳ quân” chinh phục nầy nhắc Trí Hải nhớ đến những chuyến viếng thăm đấu trường La Mã ở nước Ý Đại Lợi trong những năm theo hoàng tử Cảnh ở Âu Châu. Sự tàn bạo ẩn mặt dưới màu sắc và danh nghĩa từ Đông sang Tây đều độc ác như nhau. Những lưỡi kiếm bọc trong bao ngà và những cuộc chém giết có nghi thức thường dùng xương máu và mạng sống của con người không quan trọng hơn những nhánh hoa trang trí. Bộ cờ tinh huyết thạch của Hàn gia đã tạo ra biết bao nhiêu đau đớn, tủi nhục và oan khiên cho những kẻ chiến bại trong suốt cả chiều dài lịch sử chinh phục của nó. Dù chỉ là một phương tiện, nhưng làm gì có phương tiện nhân ái để đạt đến một cứu cánh tiêu diệt địch thủ. Có vó ngựa Mông Cổ nào mà không dày xéo lên thân phận của con người trên đường chinh phục. Trước mắt Trí Hải, những quân cờ bóng lộn là những con yêu tinh dùng bã phù hoa để hãm hại con người. Làm chủ bộ cờ là làm chủ động yêu tinh. Bộ cờ hiện ra như một sự thách đố của tội ác. Dù ai làm chủ đi nữa thì bản chất của tội ác cũng không thể cải hóa thành thánh thiện được. Với Trí Hải, thắng hay thua trong cuộc cờ nầy không còn là vấn đề then chốt, mà vấn đề then chốt là phải bẻ gãy phương tiện của tội ác trước đã.

Hàn Kỳ Vương quan sát và thoáng ngạc nhiên khi nhìn thấy vẻ mặt khoan hòa của Trí Hải từ từ đanh lại. Trí Hải mở miệng. Mọi người ngạc nhiên chăm chú theo dõi vì người nầy chưa mở miệng trong gần suốt cả ba ván cờ:

– Dù ta có chấp Hàn gia một ngựa thì chắc chắn chín nước nữa ta cũng sẽ thắng và đương nhiên làm chủ bộ cờ nầy!

Giọng Trí Hải trầm xuống như nói một lời nguyện trên sông:

– Đáng vứt đi, đồ vô dụng!

Hàn Kỳ Vương hét lên thất thanh:

– Đư…ừ…ng!

Nhưng đã muộn. Trí Hải đã vung tay cầm quân mã ném tung ra ngoài dòng sông Hương với nước nguồn đầu mùa đục ngầu đang cuồn cuộn chảy.

Sự nhốn nháo lên tới cực điểm. Nhóm vệ sĩ của Hàn Kỳ Vương đứng vây quanh bàn cờ. Nhóm chưởng kỳ, hộ kỳ, giám kỳ rời chỗ. Nhưng bỗng đâu có tiết thét lanh lảnh vang lên làm mọi người chững lại. Đó là tiếng Phạm Xảo:

– Đứng yên!

Tất cả vốn liếng hơi sức của một đời khổ luyện và làm tướng dồn tụ cả lại trong phút nầy. Ông lão cầm cây chèo bằng gỗ kiền kiền và bẻ gãy làm ba mảnh. Ông cầm mảnh lưỡi chèo dài ngoẵng loáng nước như thủ đại đao trong tay. Dáng cao lớn, sức lực công phá ghê hồn và giọng nói đầy trấn áp làm mọi người bị chế ngự một cách tự nhiên.

Một phản ứng cấp thời bất ngờ đến từ Hàng Kỳ Vương. Vương đứng dậy, râu tóc bạt gió như dựng ngược cả lên, tiếng la vang rền mà gần như nghẹn lại trong cổ họng:

– Được! Rồi đây nếu cần…! Nếu cần phải tát cạn sông Hương, mò biển Nam Hải để tìm lại cho ra con cờ đã mất cũng phải làm. Ha! Ha…! Bộ cờ tinh huyết thạch quý nhưng danh giá dòng họ nhà ta còn quý gấp vạn lần hơn thế! Danh dự sẽ được xác định công minh ngay trên bàn cờ. Đánh! Nào! Đến phiên hoàng thân! Đi… đi tiếp!

Trí Hải đã đánh trúng “điểm tử” của Hàn Kỳ Vương.

Thủ pháp ra quân trên bàn cờ là một sự phối hợp hài hòa giữa tâm và trí. Tâm loạn kéo theo trí đoản. Những nước cờ lúc tấn kích điên cuồng, lúc sững sờ chới với, chứng tỏ Kỳ Vương đang sống qua những giây phút ngập ngụa giữa trăm ngàn thác loạn.

Đến nước thứ tám sau vụ “chấp xe”, Trí Hải báo động bằng một giọng bình thản:

– Xin Hàn gia cẩn thận, chỉ còn một nước nữa thôi là ván cờ kết thúc.

Hàn Kỳ Vương quay quắt như ngồi trên lửa. Cờ đối phương dàn quân trùng trùng không có khe hở. Tiếng khánh báo hiệu sắp hết giờ cuối nước về phía Hàn Kỳ Vương lại vang lên. Cố vươn bàn tay run rẩy đi một nước cuối cùng trong tuyệt vọng, Hàn Kỳ Vương nói bàng hoàng như trong mơ:

– Ho…ò… a?!

Trí Hải lịch thiệp nhưng cương quyết và lạnh lùng:

– Trước sau đều bị bao vây, bốn mặt đều đối đầu với địch, lấy gì để hòa?!

Hàn Kỳ Vương ngớ người nhìn sâu vào thế cờ của mình đang bị chiếu tướng với trùng vây khóa chặt. Một nước thoát cũng không còn, viện binh cắt đứt, quân của Trí Hải siết chặt gọng kềm công thành đả tướng. Hết! Hàn Kỳ Vương điên cuồng trong chiến bại, đấm tay vào ngực, gục đầu lên bàn cờ, rồi đội bàn cờ lên đầu, những quân cờ rơi lảnh cảnh. Vương nói lầm bầm mà nghe như tiếng rên xiết: “Cúc cung muôn lạy Hàn gia tiên tổ xin rủ lòng nhân tha tội. Kẻ hậu duệ nầy bất tài, bạc đức đã không giữ nổi bộ cờ gia bảo. Thật đáng tội chết…” Rồi một thoáng qua trong nháy mắt, Hàn Kỳ Vương ôm bàn cờ lao xuống sông. Nước nguồn đêm tối đen ngòm, cuồn cuộn chảy xuôi về biển. Có tiếng người phóng theo trước khi tiếng la hét thất thanh nổi lên. Riêng đám vệ sĩ của Kỳ Vương vẫn còn đủ mặt. Cả dòng sông nước lũ ầm ầm thôi thúc, dòng chảy cuồng lãng vẫn ngậm miệng phăng phăng trôi đi trong đêm tối.

Điểm lại, có hai người bị nước cuốn đi. Một tự trầm mình và một bị mất tích lúc nào không ai hay, đó là Hàn Kỳ Vương và Phạm Xảo.

Trên dòng sông Hương vắng lặng, người ta nhìn màu xanh của tiếng ngựa xe. Âm thanh có một màu nhớ rất nguyên sơ, buồn và dịu dàng vọng âm từ quá khứ…

[i](Hết)[/i]

Chưa phân loại

Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương đông (13)

Tuy Việt Nam nằm lân cận các nước có truyền thống chơi cờ Tướng lâu đời, thế nhưng trừ những chuyến đi du đấu giang hồ thì những cuộc thi đấu chính thức trong suốt thế kỷ 20 hầu như rất ít được tiến hành. Nếu có chăng cũng chỉ là những chuyến giao hữu hiếm hoi mà một trong những cuộc cờ giao hữu như thế được tiến hành vào đó nó dịp Tết Bính Ngọ (1966), Trung Quốc đã từng chính thức cử 3 danh kỳ hàng đầu của họ là Dương Quan Lân, Thái Phúc Như và Hồ Vinh Hoa sang Việt Nam thi đấu một trận giao hữu. Khi ấy Hồ Vinh Hoa mới 21 tuổi nhưng đã đoạt ngôi vô địch Trung Quốc 6 năm liên tục, được tôn vinh là thần đồng số Trung Quốc. Dương Quan Lân tứ trước năm 1960 cũng đã nhiều lần ở ngôi quán quân, còn Thái Phúc Như là Á quân năm 1964 và Quý quân năm 1966.

Những tên tuổi như thế đã gây ấn tượng rất mạnh đối với làng cờ tướng miền Bắc thời bấy giờ. Việt Nam cử một số danh kỳ hàng đầu để nghênh tiếp. Cuộc cờ được tiến hành nối tiếp nhau trong vòng 10 ngày (từ 21 tháng tới 30 tháng năm 1966) ở ba thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và Hà Nam. Hà Nội có Nguyễn Tấn Thọ, Trương Trọng Bảo, Nguyễn Thi Hùng, Nguyễn Đắc Đinh, Trịnh Hoàng Sâm, Hải Phòng có Từ Quốc Phàn, Nguyễn Viết Bằng, Bùi Gia Vân, Vũ Văn Bình, Hoàng Đình Khang, Lý Kiệt và Nam Hà có Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Văn Khuê, Ngô Văn Tân, Trần Sang.

Bấy giờ là thời kỳ cực kỳ ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, máy bay Mỹ liên tục oanh kích, thả bom các tỉnh miền Bắc. Ngay ở Hà Nội con đường nào cũng có hầm tránh bom, cột báo động máy bay rúc liên tục. Trên bầu trời phía Bắc Hà Nội máy bay Việt Nam xáp chiến với máy bay Mỹ và thỉnh thoảng là những quả tên lửa đất đối không bay vút lên, nổ tung trên không trung. Chính vì vậy cuộc đấu giao hữu này mang nhiều ý nghĩa khác lớn hơn cả ý nghĩa thế thao. Đội cờ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn: mọi thứ đều thiếu thốn, không có thì giờ tập luyện, tinh thần căng thẳng,… thế nhưng các trận đấu đều được tiến hành suôn sẻ. Đội cờ Trung Quốc về mọi phương diện đều hơn: họ đến từ một đất nước hòa bình, rất khoẻ mạnh sung sức, năm nào cũng được thi đấu hàng chục giải lớn vì vậy chiến thắng của họ là điều dễ hiểu. Tuy nhiên có những ván cờ được chơi rất ngang ngửa như ván Trương Trọng Bảo hòa Hồ Vinh Hoa, Nguyễn Tấn Thọ hòa Thái Phúc Như, Nguyên Tấn Thọ hòa Dương Quan Lân, Từ Quốc Phàn hoà Thái Phúc Như.

Sau trận đấu đó ở Việt Nam chiến tranh ngày càng ác liệt cho tới năm 1975, còn ở Trung Quốc xảy ra cuộc “Đại cách mạng văn hóa” đẫm máu trong hơn 10 năm, vì vậy hai nước không còn có dịp thi đấu với nhau nữa.

Bẵng đi 35 năm, cho mãi tới năm 2001 tại giải “Các danh thủ châu Á” tổ chức tại Vũng Tàu hai bên mới có dịp gặp lại nhau. Dương Quan Lân và Thái Phúc Như đã quá già, chỉ có Hồ Vinh Hoa là sang được Việt Nam lần thứ hai, nhưng cũng đã 56 tuổi và sang với tư cách phó chủ tịch Hiệp hội cờ tướng thế giới dự họp. Tại đây Hồ Vinh Hoa đã gặp lại đối thủ năm xưa Nguyễn Tấn Thọ (đã 74 tuổi), cả hai đều cảm động, tay bắt mặt mừng.

Một vài chuyến du đấu lẻ tẻ kể trên cho thấy trong suốt thời gian hơn nửa thế kỷ cờ tưởng Việt Nam hầu như không có quan hệ gì với cờ tướng quốc tế cũng như cờ tướng thế giới hầu như không biết tới cờ tướng Việt Nam.

Qua hai trận đấu kể trên và do sự biệt lập đó mà người ta thấy dường như cờ tướng Việt Nam còn ở trình độ thấp, nhất là qua trận giao hữu tại Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định năm 1966, các kỳ thủ Việt Nam thua các kỳ thủ Trung Quốc tới 29 ván, hòa được 4 ván, không thắng ván nào. Hiệp hội cờ Tướng châu Á được thành lập vào tháng 3 năm 1979 nhưng mãi tới tháng 4 năm 1993, tức 14 năm sau, lần đầu tiên một đội cờ tướng của nước Việt Nam thống nhất mới xuất hiện trên kỳ đài quốc tế. Đó chính là giải Vô địch cờ Tướng thế giới lần thứ 3 tổ chức tại Bắc Kinh. Hơn 70 kỳ thủ của các quốc gia khác tay bắt mặt mừng một đội thành viên mới, tuy nhiên ai cũng nghĩ rằng với những “tân binh” lần đầu tới giải thì chắc hẳn không có mấy hứa hẹn, âu đó cũng là lẽ thường tình.
Trong giải vô địch thế giới này, ngoài giải chính thức còn có một giải khác, nhỏ hơn, được gọi là giải. “Dành riêng Cho những kỳ thủ không phải gốc Trung Hoa” (giải “Phi Hoa duệ”), dĩ nhiên là các kỳ thủ Việt Nam cũng được tham gia cả giải này.

Cuộc thi đấu diễn ra khá sôi nổi, các kỳ thủ ta cũng chỉ biết chơi hết mình chứ chẳng hề mơ tưởng đến một thứ hạng nào. Tuy nhiên ngay trong khi đang diễn ra các ván đấu, đội Việt Nam đã làm kỳ thủ các đội bạn hết sức khâm phục. Trước tiên là Mai Thanh Minh đã thủ hòa được với hai nhà vô địch thế giới người Trung Quốc là Triệu Quốc Vinh và Từ Thiên Hồng, thắng một số kỳ thủ khác, cuối cùng được xếp hạng 10 trên tổng số 76 đấu thủ hàng đầu thế giới đồng thời đoạt luôn ngôi vô địch giải phi Hoa Duệ”, nghĩa là với những tay cờ không phải gốc Hoa thì Việt Nam đứng đầu Hơn thế nữa, nữ kỳ thủ Lê Thị Hương của ta chơi rất hay, kết cục được xếp ở vị trí thứ tư nữ thế giới. Trần Văn Ninh (người Đà Nẵng) cũng có những ván đánh khá xuất sắc, gây ấn tượng tốt ở giải.
Không ai ngờ được rằng đội cờ Tướng Việt Nam lại có một tiềm lực dồi dào đến thế và lần đầu tiên họ thấy được một lối chơi đầy biến hoá, ngẫu hứng và sáng tạo, hoàn toàn ngược với lối chơi bài bản, đầy kỹ thuật và hết sức chặt chẽ của các kỳ thủ Trung Hoa (về sau này tại các giải thế giới người ta đã “khai trừ” Việt Nam ra khỏi các giải “Phi Hoa duệ” vì cho rằng các kỳ thủ Việt Nam sẽ lấy hết giải thưởng, không động viên được phong trào thế giới chơi cờ tướng). Báo chí thể thao Trung Quốc lúc đó đã viết “Việt Nam bất ngờ xuất hiện trên kỳ đài này như một đàn ngựa ô dũng mãnh. Rồi đây họ sẽ là đối thủ đáng gờm nhất của cờ tướng Trung Quốc”? Ngày về đội cờ tướng Việt Nam được đón tiếp trọng thể, được ủy ban TDTT khen thưởng và nhất là đã ghi được một dấu son không bao giờ phai mờ trong bước ngoặt cơ bản nhất của nền cờ tướng nước nhà. Nó không chỉ chiếm được cảm tình và còn tỏ rõ sức mãnh thực sự của cờ tướng nước nhà.

Chính từ giải quốc tế này đã chấm dứt một thời kỳ đơn độc lẻ loi để hoà nhập với nền thể thao trí tuệ đang thời kỳ sôi động của thế giới.

Cuộc hành trình của cờ tướng Việt Nam trên đấu trường quốc tế là một cuộc hành trình đầy vẻ vang. Cái tên Mai Thanh Minh trở nên quá quen thuộc với các danh kỳ hàng đầu thế giới bởi một mặt anh 5 lần liên tiếp đoạt ngôi quán quân cờ tướng Việt Nam, mặt khác hầu như năm nào anh cũng lên đường tham gia các giải đấu quốc tế, giáp mặt với các tên tuổi cự phách như Lữ Khâm, Hứa Ngân Xuyên, Đào Hán Minh, Lưu Điện Trung, Diêm Văn Thanh, Trang Ngọc Đình, Lý Lai Quần… có nhiều ván “ăn qua ăn lại”, thế rồi tới cúp Phật Thừa, mấy lần anh cũng được ~ mời đích danh. Lê Thị Hương còn oanh liệt hơn: ngay sau giải ở Bắc Kinh chị đến giải các danh thủ châu Á và đoạt luôn giải ba, giành được danh hiệu nữ Quốc tế đại sư.

Sang năm 1995 tới giải Vô địch cờ tướng châu Á, chị đánh cực kỳ xuất sắc, vượt qua hầu hết các danh thủ nữ thế giới, chỉ chịu xếp sau có một người là nữ kỳ thủ Hồ Minh (Trung Quốc), rốt cuộc Hồ Minh ở ngôi Quán quân còn Lê Thị Hương ở ngôi Á quân và ngay tại giải này Lê Thị Hương đã được phong danh hiệu cao nhất của làng cờ tướng thế giới: Đặc cấp quốc tế đại sư. Mãi tới 8 năm sau đó mới có người Việt Nam thứ hai được phong danh hiệu này. Cho đến tận bây gờ, dù đã lấy chồng, có con và tuổi cũng là cao nhất trong làng cờ nữ Việt Nam nhưng Lê Thị Hương vẫn còn thi đấu ở đỉnh cao. Trong giải Vô địch quốc gia 2003, chính chị chứ không phải ai khác đã kịp đem về cho đội tuyển cờ Thành phố HCM chiếc huy chương danh dự duy nhất.

Tuy bước lên kỳ đài quốc tế muộn màng, chỉ mới tham gia hơn 10 năm, nhưng chính Việt Nam là quốc gia được các nước đánh giá cao, thế hiện qua những con số cụ thể và những danh hiệu được phong tặng: số đặc cấp quốc tế đại sư là 3 người (Lê Thị Hương, Trềnh A Sáng, Trương Á Minh), số quốc tế đại sư là 8 người (Mai Thanh Minh, Diệp Khai Nguyên, Mong Nhi, Trần Văn Ninh, Trần Đình Thủy, Võ Văn Hoàng Tùng, Lê Thiên Vị, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Châu Thị Ngọc Giao) và chắc chắn sẽ còn nhiều nữa.

Năm 2002 một đoàn cờ tướng Việt Nam gồm 5 người (Trịnh A Sáng, Trương Á Minh, Diệp Khai Nguyên, Mai Thanh Minh và Lê Thiên Vị) đã được phía Trung Quốc mời sang thi đấu tại 5 tỉnh thành của Trung Quốc. Tháng 10 năm 2003 một đoàn cờ Tướng Trung Quốc gồm các danh thủ Từ Thiện Hồng, Lý Lai Quần, Lâm Hoành Mẫn, Trang Ngọc Đình đã sang thi đấu tại các thành phố lớn của Việt Nam:Vũng Tàu, Sài Gòn và Hà Nội. Năm 2004 Việt Nam lại có đoàn cờ sang thi đấu tại các Nạn Vân Nam, Quy Châu, Thành Đô, Cam ‘rúc và Bắc Kinh. Hai nước tiếp tục những cuộc giao lưu như thế đã trở thành thường xuyên. Nhiều người nói rằng giá như cờ tướng Việt Nam gia nhập Hiệp hội cờ Tướng châu Á từ năm 1980 thì bây giờ nền cờ tướng của chúng ta đã lớn mạnh hơn biết bao, số kỳ thủ có đẳng cấp của chúng ta còn có thể nhiều gấp đôi và thứ bậc của chúng ta trên đấu trường quốc tế còn được cải thiện hơn nhiều. Ý kiến đó xem ra cũng có lý, bởi vì suốt từ năm 1980 cho tới 1993 chúng ta rất thiếu thông tin, sách báo về cờ tướng hầu như hoàn toàn không có và tới mãi năm 1992 ta mới có giải Vô địch cờ tướng quốc gia đầu tiên. Điều đó cho thấy sự phấn đấu của các kỳ thủ Việt Nam thật là phi thường, bền bỉ, dẻo dai, nhưng điều ấn tượng nhất là đã tự tạo nên một lối chơi rất đặc biệt theo phong cách và trường phái Việt Nam mà chính các nước khác đang phải cố công sưu tầm nghiên cứu xem thực chất “nó là cái gì” đế học hỏi và tìm cách vượt qua (các website cờ tướng quốc tế hiện nay có rất nhiều ván cờ của các kỳ thủ Việt Nam, các bạn hãy vào nchess.com chẳng hạn). Hiện tại, chính các kỳ thủ Trung Quốc cũng thừa nhận “Nói cho cùng thì chính các bạn mới là đối thủ xứng đáng nhất của chúng tôi!” Đây không phải là lời nói xã giao, bởi trong khu vực Đông Nam Á chưa nước nào đứng trên được Việt Nam.

Đến đây xin được tạm dừng. Loạt bài này có thể chưa được hoàn hảo và còn có những điều bạn đọc muốn biết nhưng chưa được đề cập tới, nhưng dù sao cũng bước đầu cung cấp được cho các bạn yêu thích thể thao trí tuệ một cái nhìn tổng quát về cờ Tướng, một thú chơi cực kỳ hấp dẫn đối với người phương Đông, đặc biệt là với hàng triệu người Việt Nam, xin hẹn gặp lại trong những chuyên mục, những câu chuyện, những vấn đề hay những nhân vật nổi bật của làng cờ Tướng… trong những lần sau!

Chưa phân loại

Câu Lạc Bộ cờ tướng Kỳ Ngộ ở TPHCM

Đối diện với Đại học sư phạm TPHCM, Kỳ Ngộ quán là một quán cà phê nhìn từ ngoài nhỏ tí xíu với chiều rộng chưa được 2 mét, không thể gọi là xứng với tầm vóc và sự nổi tiếng của nó. Hơi ngạc nhiên, tôi vẫn vào gửi xe, mới dắt xe vào tôi đã nghe một giọng nói rất ấm và hài hước vọng xuống, một phong cách nói rất…cờ tướng: nhảy con Mã bên này thì xấu quá, đánh đấm gì nữa,…bỏ con tốt đầu thì chết chắc,… đi như dzậy thì tiêu rồi,… Vốn mê cờ tướng nên chỉ nghe như thế là máu chảy rần rần trong người rồi, muốn gửi xe thật mau mà lên xem.

Hóa ra, cái cửa quán bé tí xíu thế mà bên trong rộng rãi thật nhưng bố trí rất bề bộn và khách vào uống cà phê cũng ngồi rất lộn xộn. Hỏi ra thì biết hôm nay 2 người đấu trên Kỳ Đài là ông Võ Hồng Châu tiếng tăm lừng lẫy – đài chủ 12 tuần liền, gặp Nguyễn Hoàng Lâm – kỳ thủ có đẳng cấp A1 quốc gia. Ván cờ vừa bước vào giai đoạn trung cuộc rất căng thẳng nhưng người bình cờ là ông Lâm đầu bạc vẫn luôn miệng cười và bình phẩm các nước đi và các nước biến rất sâu sắc, rất sách vở(tôi đoán thế vì nghe mấy cụm từ lạ quá: Tả Mã Bàn Hà, Cao Tả Pháo,…). Ông Lâm cũng bình luận những điều liên quan đến cờ và Xã Hội bên ngoài rất hay, rất triết lý trong khi chờ đợi các đấu thủ đi thêm vài nước. Tôi ngồi xem và nghe say sưa. Ở dưới là các Kỳ thủ cũng đang chăm chú vào các ván cờ độ của mình, người thường xuyên đến Kỳ đài xem và công đài nhất theo tôi được biết là danh thủ Đinh Tiến Lộc (tôi biết được đương nhiên là vì tuần nào tôi cũng đi kể từ khi biết đến quán). Ván cờ Lộc đánh với một vị khách chấp 2 tiên và đánh độ, hôm đó Lộc thua liền 2 ván nhưng sắc khí của một đại cao thủ có khác, vẫn nghiễm nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Xung quanh bàn cờ của Lộc lúc nào cũng đông đúc người xem.
Trở lại với ván cờ Võ Hồng Châu và Nguyễn Hoàng Lâm, sau 12 tuần liên tiếp ngồi ở ngôi vị đài chủ, ông Châu đã nhường cho kỳ thủ tuổi trẻ tài cao Nguyễn Hoàng Lâm. Sau này rồi cũng bị cao thủ khác chiếm ngôi. Từ dạo đó đến nay, ngôi vị đài chủ không ai có thể giữ lâu như ông Châu dù đã rất nhiều danh thủ khác tiếng tăm lừng lẫy lên ngôi như: Nguyễn Hoàng Lâm, Đinh Tiến Lộc, Võ Minh Nhất, Ngô Quang Phẩm,… và cả ông Châu lại công đài nhưng cũng không lấy lại được thành tích năm xưa. Theo ông Lâm, người đang giữ kỷ lục bảo vệ ngôi đài chủ lâu nhất là danh thủ Trương Á Minh với… 37 tuần liên tiếp.

Đến Kỳ Ngộ quán do ông Lâm bình cờ, chúng ta cũng có thể được cập nhật rất chi tiết những thông tin mới nhất về cờ tướng, biết thêm nhiều tin tức xảy ra không chỉ ở TPHCM. Chẳng hạn như giải đấu cờ tướng thế giới vừa rồi, giải hạng nhất quốc gia tại Vũng tàu, tin buồn về kỳ thủ vang bóng Đặng Hùng Việt (khi đó chưa có một tờ báo nào đăng tải), tin tức về giải đấu lớn nhất quốc gia năm nay đang tổ chức ở TPHCM,… Ngoài ra, các bạn yêu cờ có thể hỏi bất cứ thông tin gì về cờ, ông Lâm rất nhiệt tình chỉ bảo nếu biết, nhất là những biến hóa trên ván cờ công đài. Thêm nữa, Kỳ Ngộ quán có đội ngũ tiếp viên gồm các cô bé rất xinh tươi và hay trêu đùa, dường như làm cho không khí ở quán cờ bớt ngột ngạt hơn!?

Tôi là Kỹ sư tin học, đam mê cờ tướng, đến một lần và “bị nghiện” từ dạo ấy. Chỉ đơn giản thấy Kỳ Ngộ quán rất hay và giới thiệu với các bạn yêu cờ như tôi thôi chứ không có mục đích quảng cáo gì cho ai ở đây hết. Sáng thứ 7, Kỳ Ngộ quán là món ăn tinh thần không thể thiếu được của tôi, có bận mấy cũng ráng sắp xếp ghé qua, đôi khi chỉ tranh thủ ngồi được có nửa tiếng nhưng cũng thấy tạm thỏa mãn, có còn hơn không mà.

Chưa phân loại

Vì sao Nguyễn Thành Bảo không giành được cúp vô địch?

[img maxheight=200 maxwidth=200 ]xq500-0.jpg;right;Nguyễn Thành Bảo tại giải cờ 2006 (ảnh VT)[/img]Giải vô địch cờ tướng hạng nhất năm 2006 tại Vũng Tàu đã kết thúc bằng thắng lợi lớn của đội tuyển Thành phố HCM. Trước giải này, bạn hâm mộ cờ cả nước đặt rất nhiều hy vọng vào Nguyễn Thành Bảo (đội Bà Rịa Vũng Tàu) sau mấy năm anh vắng mặt trong các giải thi đấu toàn quốc. Hy vọng càng được củng cố khi anh đã vươn lên dẫn đầu giải đồng đội 2005.

Cần phải nhấn mạnh rằng, Thành Bảo đoạt được ngôi Á quân là thành công rất đáng được khích lệ, biểu dương. Nhưng người hâm mộ còn muốn anh làm được hơn thế, đăng quang được ngôi quán quân đồng thời làm vẻ vang cho Bà Rịa Vũng Tàu.

Đáng tiếc là rốt cục anh đã lỗi hẹn với chiếc cúp vàng vô địch kỳ này, và chúng ta ít nhất còn phải chờ thêm một năm nữa. Cái cần nhất cho anh là rút ra được bài học qua lần lỗi hẹn này.

Ở giai đoạn 1 của giải (đánh 11 ván theo hệ Thụy Sĩ, sau 4 ván toàn thắng, vào ván 5 anh gặp Trịnh A Sáng, cũng là một ứng viên cho chức vô địch. Ván cờ diễn ra như sau: Trịnh A Sáng (đi trước thắng) Nguyễn Thành Bảo:

[game]
FORMAT WXF
RED Trenh A Sang;;;
BLACK Nguyen Thanh Bao;;;
RESULT 1-0
EVENT Vietnam National Championships, 2006
DATE 6-3-2006
START{
1. P2-5 M8.7 2. M2.3 M2.3
3. B7.1 B7.1 4. M8.7 X9-8
5. X1.1 T7.5 6. X1-4 S6.5
/* Hai bên chơi theo bố cục Trung Pháo hoành Xa hữu lặc đối Bình phong Mã tả tượng (Pháo đầu lên Xe khép sườn phải gặp Bình phong Mã lên Tượng trái). Đến đây Trắng có 3 cách đi chủ yếu là: M7.6, P8.2 và B5. 1*/
7. X9.1
DIAG{ #7 BLUE }
/*Nước đi mới, ít ra là ở giải toàn quốc Việt Nam. A Sáng không có tham vọng “giải quyết nhanh”, nên tiếp tục triển khai quân, chờ cơ hội.*/
7. … P2.4
8. M7.8 P2-7
9. T3.1 B7.1
10. B5.1 P8.3
11. B5.1 B3.1
/*Nhiều cao thủ cũng chọn B3.1 khi được hỏi, nhưng liệu đây có phải là nước hợp lý ? Để làm rõ điều này chúng ta hãy phân tích lại cục thế: Trắng đang tiến công uy hiếp trung lộ, Mã cánh trái cũng sẵn sàng phối hợp, 2 Xe dàn hàng ngang ở vị trí sẵn sàng xuất kích trợ công. Trong khi đó, cánh phải Đen gần như bị hãm, trung lộ đang bị công kích. Tuy nhiên cánh trái Đen rất mạnh, tiềm ẩn đòn phản bất ngờ. Thậm chí có đến 2 đòn phản kích. Đòn thứ nhất nhằm vào vị trí bấp bênh của Mã, chỉ cần B3.1 là Mã bị đẩy vào vị xấu.

Đòn thứ hai sâu kín hơn. Nếu Trắng đi M3.5 thì Đen P8.3 bắt Xe rồi P7.3 chiếu tướng. Cân nhắc lợi hại trong bố trí lực lượng thì nên B5.1 để dụ trắng M3.5 hợp lý hơn.

Xét về tâm lý thi đấu mà nói, nếu đã tiến Tốt đầu thì thì người ta thường chọn phương án “Đầu đội”, ít khi để Mã ở nhà. Diễn biến có thể:
1) B5.1, M3.5 P8.3, X4.5 P7.3 ưu rõ.
2) B5.1 M8.7 P8-3 (chờ P3-5 giữ chắc Tượng đầu).
3) B5.1 X4.5 M7.8 (nước này ít khi gặp)*/
12. X9-8 B3.1
13. M8.7 P7-3
/*Mới nhìn thì có vẻ hay, vì hãm Mã đối phương vào đất chết. Nhưng bình tĩnh suy nghĩ thì đây là nước yếu, vì bỏ mất cơ hội phản đòn duy nhất ở cánh trái, hơn nữa buộc đối phương công phá Tượng đầu. Nên B3-4 chuẩn bị che mặt Pháo ở trung lộ, phối hợp với Tốt 7 đã vượt sông, hoặc nếu muốn bắt Mã thì P8/2, M7.5 T3.5, P8.5 T5/3 cục thế bình ổn vững vàng. Lúc này 2 Pháo vừa giữ nhà vừa cấm đối phương M3.5 tăng cường lực lượng tiến công.*/
14. M7.5 T3.5
15. P8.5 M7/6
16. X4.7 T5.3
17. B5.1 B7.1
18. M3.5 X8.1
19. X4/4 B7-6
20. M5.4 P8.4
/*Trắng ưu lớn, thắng cuộc như sau:*/
21. S4.5 B6-5 22. M4.6 X1-3
23. P5-3 X8-7 24. T1.3 M3.5
25. P3.6 P3-9 26. T3/1 M5.6
27. M6.7 X3.1 28. P3-7 T3/5
29. P7-6 S5.6 30. P8.2 Tg5.1
31. P6-9 P9-7 32. S5.4 P7.3
33. Tg5.1 Mt.4 34. Tg5-4 }END
[/game]
 

Vào giai đoạn 2, Nguyễn Thành Bảo thi đấu đối kháng với Trịnh A Sáng tranh ngôi Quán quân quốc gia. Chỉ cần hoà là Bảo vô địch. Dưới đây là diễn biến ván thứ nhất:
 
[b]Nguyễn Thành Bảo (đi trước thua) – Trịnh A Sáng[/b]
[game]
FORMAT WXF
RED Nguyen Thanh Bao;;;
BLACK Trenh A Sang;;;
RESULT 1-0
EVENT Vietnam National Championships, 2006
DATE 6-3-2006
START{
1. B7.1 M8.7 2. B3.1 P8-9
/*Hai bên đi theo bố cục “Tiến binh đối khởi Mã”. Đến đây có 2 cách đi thông dụng là: P2-4 và M2.3*/
3. M2.3 X9-8
4. X1-2 X8.4
5. M8.7
DIAG{ #5 BLUE }
/*Theo quốc tế đại sư Trần Hiếu Khôn, đổi lại Trắng đi: P2-1 X8-2, P8.5 P9-2, M8.7 T3.5, T7.5 B7.1, B3.1 X2-7, X9-8, M2.4, M3.4 B3.1 cờ cân bằng, hai bên cùng vững.*/
5. … B3.1 6. B7.1 X8-3
7. P8/1 M2.3 8. P8-7 X3-4
9. P7-3 X1.1 10. M3.2 X1-6
11. P3.5 M7/5 12. T7.5 X6.2
13. P2-3 X4-8 14. M2/1 X8.5
15. M1/2 M3.4 16. S6.5 P2-8
17. M2.1 P8.5 18. X9-6 M5.3
19. Pt.1 P9/1 20. Pt-2 T7.9
21. P2.1 X6/2 22. P2.1 S6.5
23. P3-4 P9-7 24. X6.4 P8/5
25. M1/2
/*Lúc này mà còn giữ Tốt 3 thì quá “tham”, thể hiện tâm lý “nóng”, không ổn định. Có thể áp lực đòi hỏi phải vô địch đã làm Thành Bảo không giữ được bình tĩnh. Nên B3.1 bỏ Tốt mở đường cho Xe tiến công để phòng thủ. Diễn biến có thể:
1) B3.1 T9.7, X6-2 P8-7, Tg5-6 Đen khó tiến công
2) B3.1 P8-7, B3-2 Trắng ưu*/
25. … P8-7 26. T3.1 X6.5
27. P2-1 X6-8 28. M2.4 Ps-6
29. B3.1 T9.7 30. P1-3 P6.7
/* Đen hơn quân, thắng.*/
31. P3/4 T3.5 32. P3.1 M4.6
33. P3/2 X8-9 34. M7.8 X9-5 }END

Qua 2 ván cờ chúng ta thấy Trịnh A Sáng đã phục hồi phong độ cao, tâm lý thi đấu rất ổn định vững vàng. Nguyễn Thành Bảo chưa được chuẩn bị tốt về mặt tâm lý cho trận đấu này. Anh cần được các huấn luyện viên chuẩn bị kỹ hơn nữa cả về tâm lý lẫn lối chơi, nhất là cách phân biệt toàn cục một ván cờ, cách bố trí và điều chỉnh binh lực.

Khắc phục được các nhược điểm kể trên, chúng tôi tin anh sẽ giành thành tích tốt hơn trong các giải sau.
[/game]

Chưa phân loại

Cờ mù

[img]xq505-0.jpg;right;Hồ Vinh Hoa[/img][b]Lời tác giả:[/b] [i]Thưa quí vị, tôi xin được đóng góp bài viết về đề tài “Cờ Mù”, tôi rất hoan hỷ nếu bài viết này được đăng tải cho các bạn đọc yêu cờ cùng nhau thưởng thức.[/i]

Chắc quí vị đã từng nghe nói nhiều về các đại kiện tướng cờ vua cũng như cờ tướng có khi thi đấu biểu diễn cả chục người cùng lúc, và cũng nghe nói nhiều về cờ mù (thi đấu mà không nhìn vao bàn cờ!) mà một người lại thi đấu với nhiều người! Chắc nghe nói thì nhiều nhưng ít có ai được chứng kiến tận mắt, thi đấu mà không nhìn vào bàn cờ, nếu 1 đấu 1 thì có thể tin được, nhưng nếu nói 1 mà đấu với 5-6 hoặc hơn thì có vẻ khó tin quá phải không quí vị? Đây cũng là điều mà tôi vẫn hoài nghi cho tới khi tôi tận mắt chứng kiến và xin được kể lại sau đây:

Vào ngày 28 tháng 12 năm 1998, tại nhà hàng Cathay Golden Nugget ở Melbourne Úc Châu, phái đoàn Cờ Tướng Trung Quốc gồm có Hồ Vinh Hoa, Hứa Ngân Xuyên, và cô Kim Hải Anh (vô địch nữ Trung Quốc năm 98), sau khi đã biểu diễn những trận đấu: 1 người đấu với nhiều người như thường lệ, ông Hồ Vinh Hoa đã biểu diễn 1 trận CỜ MÙ mà tôi đã chứng kiến và vô cùng khâm phục ông, và nỗi hoài nghi về trận cờ mù giữa 1 người đấu với nhiều người trong tôi mới thật sự chấm dứt.

Trước khi đấu, Ông Hồ Vinh Hoa nói ông ta lúc trẻ có thể thi đấu với khoảng 15 người cùng lúc với các ván cờ mù, nhưng để chắc ăn, hôm nay ông chỉ muốn đấu với khoảng 10 người mà thôi, nhưng số người tham dự để đấu với ông ta chỉ có được 6 người, còn lại hầu hết đều chỉ muốn xem hơn là thi đấu, ông Hồ Vinh Hoa đã xoay lưng lại với bàn cờ, trọng tài xướng lên những nước đi của ông và của những đấu thủ để mọi người và ông cùng theo dõi các ván cờ. Trước khi thi đấu, 6 người này đã tham khảo ý kiến lẫn nhau, và đều đồng ý sẽ thi đấu 6 loại cuộc khác nhau, 6 người đi trước này, người thì lên tượng, người nhảy mã, người vô pháo đầu, người lên pháo tuần hà, v.v… (nên biết đây là trận đấu nhanh [fast game], nhưng không có đồng hồ), và sau khoảng thời gian 1 tiếng, ông đã hạ gục 5 và hòa 1, người thứ nhất thua chỉ trong vòng 15 phút.

[img]xq505-1.jpg;center;Biểu diễn thi đấu đồng loạt tại Paris 2005[/img]

Tuy làng cờ Úc Châu không có được những kiện tướng quốc tế, nhưng trình độ điểm của những người thi đấu hôm đó theo tôi nghĩ cũng phải vào khoảng trên 2000, những người thi đấu cố tình đi những nước đi lòng vòng (ví dụ như bắt quân 3 lần, chiếu tướng 3 lần) hoặc tốt xàng qua xàng lại ở những nước trung cuộc và cờ tàn để làm cho ông rối tri và quên vị trí các quân cờ, nhưng thật sự ông đã làm cho tất cả mọi người có mặt hôm đó phải khâm phục trong đó có cả tôi.

Còn bạn, bạn vẩn còn hoài nghi về trận CỜ MÙ giữa 1 đấu với nhiều người?

Chưa phân loại

Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương đông (12)

Ta thử tìm hiểu một đôi nét về cờ Tướng ở các vùng đất giàu truyền thống.

Không phải chỉ do lòng say mê mà làng cờ Sài Gòn cũng như Nam Bộ nói chung có nhiều bậc danh thủ như đã kể trên và sôi động suốt một thời gian dài. Có một điều rất quan trọng là ai cũng phải công nhận là làng cờ Tướng ở các miền đất này đã có được những nhà bảo trợ, tài trợ, những nhà tổ chức tuyệt vời. Những con người như thế không hề cầu lợi mà cũng chẳng cầu danh, như những “thiên thần hộ mệnh” cho làng cờ vậy. Nếu không có họ chắc chắn sẽ không thể xuất hiện những chùm sao sáng liên tục, cha truyền con nối như thế trên bầu trời cờ Tướng phương Nam.

Trong suốt một thời gian dài, Sài Gòn có một cộng đồng người Hoa đông đúc. Họ làm ăn, buôn bán và đặc biệt là thích chơi cờ Tướng. Số cao thủ người Hoa rất đông, có những gia tỉnh người Hoa có tới 4, 5 anh em đều là những tranh thủ cờ như “Diệp gia tứ hổ” (Bốn anh em nhà họ Diệp đều là danh thủ cờ). Trong số những người làm ăn thành đạt có không ít người mê cờ hay nói chính xác hơn là những người mê thưởng thức cờ. Với tinh thần hữu ái, nhất hô bá ứng, thế là những trận song hùng, tứ hùng, những “đả lôi đài”, những trận tỷ thí cờ Tướng mang tính quốc nội hay quốc tế liên tục được các nhà hảo tâm này đứng ra tổ chức. Các chi phí đều do họ lo. Tiền thưởng họ chung tay góp lại, “giải nhỏ” thì giải thưởng nhỏ, với các cặp đấu giữa các danh thủ siêu kiệt thì số tiền thưởng nhiều khi tới mức chóng mặt.

Nhưng không thể chỉ nói tới cộng đồng cờ Tướng người hoa mà phải nói tới cả cộng đồng cờ Tướng người Việt ở đất này cũng mê cờ và có nhiều tay cờ sừng sỏ không kém, cho nên thời trước hình thành hai trung tâm lớn là: cờ Tướng người Việt ở Sài Gòn và cờ Tướng người hoa ở Chợ Lớn (cho tới hiện nay chính làng cờ Trung Quốc cũng vẫn cho rằng trong môn cờ Tướng của cả châu Á chỉ có Việt Nam là đối thủ xứng đáng nhất của họ). Hai cộng đồng này sống và làm ăn trong bao năm rất thân hữu với nhau, nhưng đã vào bàn cờ thì tỷ thí rất sôi nổi quyết liệt, chẳng nhường nhau bao giờ. Vì vậy trong số những doanh nhân giàu có người Việt cũng không ít người sẵn sàng bỏ tiền của ra lập các giải, các kỳ đài, khiến cho rất nhiều kỳ thủ tài hoa có dịp thi thố, có đất tung hoành.

Ngoài ra còn có những con người không hẳn là giàu có, thậm chí không dư giả gì, nhưng cái tâm của họ đối với cờ ít ai bì kịp. Họ tận tụy đi theo từng cuộc cờ, dùng bút chì tỷ mẩn ghi chép lại từng ván cờ trên những tờ giấy một mặt, những quyển sổ nhỏ giấy rẻ tiền, lưu giữ qua bao năm tháng để ngày nay chúng ta còn được thưởng thức những ván cờ trác tuyệt một thời của các đại cao thủ. Thế hệ các kỳ thủ từ tuổi 50 trở lên phần đông vẫn còn nhớ những trận cờ vang dội, hào hùng mà sắp tới đây chúng ta sẽ kể. Nhưng có lẽ trước tiên chúng ta nên ghi danh một số những nhân vật tuy không phải là danh thủ nhưng những công lao của họ là vô giá cho làng cờ nước nhà.

Một trong số những con người như thế là ông Nguyễn Văn Anh.

Nguyễn Văn Anh sinh ở Tầm Vu thuộc tỉnh Long An, sống tại Sài Gòn, tên tuổi của ông nổi tiếng trong khắp làng cờ Nam Bộ và hầu như bất kỳ ai đã từng được gọi là danh thủ từ nhóm Phạm Văn Sáng, Trần Văn Kỳ, Lê Văn Tám, Tất Kiên Dương cho tới lớp về sau như Phạm Tấn Hòa, Quách Anh Tú, Lê Thiên Vị… cũng đều biết tới ông và nhiều người trong số họ chịu ơn ông, coi ông như một Mạnh Thường Quân thời hiện đại. Trong những năm 60-70 của thế kỷ trước, đối với các kỳ thủ chuyện kiếm công ăn việc làm tại đô thành là việc rất khó khăn. Ông Trần Văn Anh bấy giờ là trưởng ty ngân khố Chợ Lớn đồng thời là quản trị nhân viên ở trường đua ngựa, được quyền nhận và sắp xếp nhân viên, thế là nhiều kỳ thủ nhờ ông mà có được công ăn việc làm, sống được để theo nghiệp. Có nhiều kỳ thủ khi túng tiền, biết ông là người say mê sưu tầm sách cờ bèn đem sách tới bán cho ông. Ông dư biết tình cảnh của họ, nên cứ đưa là ông mua, sách in hay sách chép tay cũng mặc, cứ nói giá 5 đồng thì ông đưa 10 đồng, cứ gấp đôi mà trả cho người bán. Mua xong cất đó chớ cũng chưa cần giở ra coi đó là sách gì. Tới chừng rảnh rỗi đem kiểm kê lại kho sách khổng lồ của mình thì có tựa sách đã mua tới 8 hay 10 bản y nhau mà không hề hay biết. Ông là ngườỉ trung thực, rất ghét những thói bần tiện giả dối thủ đoạn mà ngày nay được gọi bằng hai chữ “tiêu cực”. Có lần một kỳ thủ đem một quyển sách tới nói với ông rằng đây là tuyển những ván cờ hay của mình, ông vui vẻ mua ngay. Về sau mới phát hiện ra rằng “tuyển” này toàn là những ván cóp pi từ sách khác sang, ông nổi giận và tuyệt giao với người đó.

Những người ông quen, ai cần gì về cờ cứ tới nhà ông, tài liệu, sách báo, tạp chí về cờ Tướng của mình, ông đều vui lòng cho mượn để họ học tập nâng cao kỳ nghệ. Đến năm 1974 khi Sài Gòn thành lập Việt Nam tượng kỳ hội thì không sót một ai, thảy đều nhất trí đề cử ông vào chức vụ hội trưởng. Sau đó vì hoàn cảnh gia đình ông phải sang Pháp sống, nhưng cứ mỗi lần về Việt Nam ông lại mang theo hàng vali sách, toàn là sách cờ Tướng, có tới hàng trăm quyển để tặng cho các bạn cờ ở Việt Nam. Anh em trong làng cờ cảm động lắm vì sách hồi những năm 80 làm gì có như bây giờ, mọi người bàn nhau góp tiền lại trả để ông đỡ quá bị thiệt thòi về mặt tiền nong, thế nhưng ông không hề nhận một đồng nào.

Khoảng năm 1986 ông qua đời tại Pháp thọ 79 tuổi, tro hài cốt được đưa về Việt Nam và an táng tại quê nhà. Những bài báo về ông vẫn còn đó, những bức ảnh về ông vẫn còn đó, nhưng điều cốt yếu nhất là ông vẫn còn sống mãi trong trái tim của những người bạn cờ với hình ảnh một chính nhân quân tử, một người đã đầu tận tâm cho làng cờ nước nhà. Liệu không có những con người như Nguyễn Văn Anh, làng cờ Sài Gòn có được như ngày nay không?

Lại có những con người khác góp phần làm những việc khác không kém phần quan trọng cho làng cờ. Ví dụ như trước đây có ông Phạm Gia Khánh, một người bình thường của đất Sài Gòn. Tên tuổi có nói ra cũng chẳng ai biết đó là ai, chỉ đơn giản là người ham mê cờ chớ không phải là đấu thủ, nhưng ông bỏ rất nhiều công sức sưu tầm ảnh các kỳ thủ tài giỏi, các hình thức đấu cờ, ghi chép về các giải cờ tạo nên những tập tài liệu dày về cờ rất có giá trị, nhất là các hình thức thi đấu cờ người bằng nghệ thuật hay bằng võ thuật cực kỳ sinh động để lưu lại cho đời sau. Không những thế ông còn cùng con cháu mình lập ra những đội cờ người đánh biểu diễn. Đội quân cờ người của ông hết sức tốn kém về tài chính bởi ông thuê toàn các diễn viên, nhạc công có tiếng ở các đoàn tuồng (hát bội) của Sài Gòn thời bấy giờ, tiền công cho mỗi diễn viên trong mỗi lần biểu diễn rất cao. Trang phục của các diễn viên đúng theo kiểu tuồng cổ lộng lẫy và sang trọng, được biểu diễn y như trên sân khấu nhà hát vậy. Tướng có đủ cờ bài mao tiết, nhịp bước khoan thai, Mã nhảy như kỵ sĩ phi ngựa… Mỗi một nước đi đều là những động tác múa uyển chuyển hay mạnh mẽ, còn khi quân ăn nhau thì biểu diễn bằng võ thuật cùng vớt võ khí đủ loại. Có cả một đội nhạc đủ đờn, kèn, trống, sáo, phách, chơi tưng bừng suốt cả ván, khiến cho sân cờ người như sân diễn tuồng vậy, người ta nghe có cờ người là kéo nhau đi xem đông vô kể mà không phải trả một xu nào. Nhờ thế mà cờ Tướng trở thành một nghệ thuật văn hóa đầy kiêu hãnh thời bấy giờ, nó để lại ấn tượng sâu sắc không bao giờ phai mờ với tất cả những ai đã từng một lần xem.

Chính nhờ rất nhiều những con người nhiệt tâm và đam mê đầy nghĩa cử như thế mà cờ Tướng đất Sài Gòn những năm xưa có tiếng vang trên cả nước, xứng đáng để các tài năng bậc nhất của nước Nam tìm đến và các kỳ vương nước ngoài cũng vượt trùng dương lần mò sang.

Ngày nay có nhiều người nuối tiếc những ngày huy hoàng ấy, những con người trung hậu ấy và đặt câu hỏi: “Nay xã hội giàu có hơn xưa biết bao, văn minh hơn xưa biết bao, sao không còn làm được, sao những vị Mạnh Thường Quân như thế lại qua hiếm hoi?”

Chủ yếu là ngày nay chúng ta vẫn chưa xã hội hóa được trò chơi đầy tính trí tuệ nghệ thuật này, nên dù bao nhiêu người nhiệt tâm và có tiền bạc cũng đành bó tay, nản lòng. Cả nước có hàng triệu người chơi cờ, mỗi tỉnh cũng có tới hàng vạn, ấy thế mà mỗi tỉnh cũng chỉ có 5, 7 người được tham gia thi đấu, còn biết bao người khác đành thở dài ngao ngán đành chơi cờ sân, cờ vỉa hè với nhau vậy. Hơn nữa lại có lắm kẻ “trung gian” làm việc theo cung cách “anh đứa tiền đây, tôi lo hết” để rồi dần tôi kết cục “anh bỏ ra, tôi hưởng lợi”, chưa kể có lắm người coi cờ chỉ đơn thuần mang tính đấu đá thể thao nhằm giành được tiêu chuẩn này, huy chương nọ vì tiền bạc, vì địa vị cá nhân. Họ đánh mất chữ “Tâm” nên cũng tước luôn đi những gì là cốt lõi, tinh hoa của cờ.

Chưa phân loại

Mê cờ không thôi thì có lợi hay có hại?

Ngày xưa có những gia tộc giàu có có thể nuôi các cậu ấm cô chiêu ăn chơi nhảy múa suốt cả đời mà chẳng phải mó tay vào một việc gì cả. Nếu trong số các cô cậu đó đam mê cờ thì cứ chơi từ khi còn để chỏm cho tới lúc đầu bạc răng long.

Thế giới ngày nay đã hoàn toàn khác, kể cả có hàng nghìn lượng vàng, hàng tỷ bạc mà con cái học hành kém cỏi không biết vi tính là gì, ngoại ngữ là gì và thiếu những kiến thức cần phải được trang bị khác thì cũng sẽ bị người đời coi thường, cười chê. Mỗi một thanh niên ngày nay phải có một mặt bằng văn hóa, mặt bằng kiến thức nhất định.

Chính vì vậy cái gọi là “mê” đối với cờ cũng phải được xem xét dưới một góc độ mới. Cờ là một thú chơi, nhưng nếu quá lạm dụng nó, coi nó như mục đích của cuộc đời, bỏ bê các mặt khác thì sẽ dẫn tới tình trạng “lợi bất cập hại”. Anh là đại kiện tướng ư? Vậy anh đã tốt nghiệp lớp 12 chưa, anh đã tốt nghiệp đại học chưa? anh chơi cờ giỏi ư, nhưng anh có nghề ngỗng gì không? anh là danh thủ ư? nhưng anh có trình độ văn hóa và có trình độ giao tiếp xã hội không?

[img]xq332-0.jpg;right;Bobby Fischer – nhà Vô địch cờ Thế giới bị người Mỹ căm ghét, cảnh sát truy bắt vì đã từng vi phạm luật pháp và sau đó còn phát ngôn ủng hộ Bill Laden đánh người Mỹ[/img]Chính Bobby Fischer là một “tấm gương tày liếp” cho các thế hệ sau. Ông chơi giỏi tới mức đoạt hẳn ngôi vô địch thế giới nhưng vẫn bị coi là “kẻ vô học” bởi chỉ đến lớp 7 ông đã bỏ trường để theo “nghiệp cờ”, ông chơi cờ như điên như dại, lập nên biết bao kỳ tích, nhưng rốt cuộc thì sao: chỉ nổi lên có một lần duy nhất rồi mãi mãi chìm vào bóng tối, trở thành kẻ ẩn dật, một thời trở thành kẻ cuồng tín, một thời bị truy lùng vì vi phạm lệnh cấm vận, đành lang bạt nay đây mai đó và làm không ít những điều lập dị kỳ quặc, mặc dù bản chất ông không phải là xấu. Cũng rất may là ông đã kiếm được một số tiền đủ lớn để sống nốt phần đời còn lại, nếu không thì chưa biết cuộc đời ông rồi sẽ sẽ ra sao. Thiếu kiến thức, thiếu học hành đã khiến ông không cầm lái nổi cho cuộc đời mình và bao nhiêu hầm hố trên đời luôn rình rập trên mỗi bước đi của ông!

Hay xem các nhà vô địch khác, từ Lasker, Capablanca, Aliokhin cho tới Botvinik, Kasparov, Karpov… họ đều học hành tới nơi tới chốn với học vị rất cao trong khoa học cũng như cùng lúc gánh vác nhiều trọng trách xã hội. Họ say mê cờ nhưng là một sự say mê hài hòa với các hoạt động khác và họ đã thành công. Ở Việt Nam, cho đến nay có thể nói Hoàng Thanh Trang là một điển hình tuyệt đẹp cho thế hệ kỳ thủ mới: học giỏi, thông thạo ngoại ngữ, tin học, có ước mơ, chí hướng về nghề nghiệp hẳn hoi, thông thạo cầm kỳ thi họa, là kỳ thủ xuất sắc nhất Việt Nam hiện nay. Tất cả những cái hay đó không ngăn cản nhau, ngược lại bổ sung cho nhau để làm cho con người luôn hoàn thiện.

Như vậy, say mê cờ là điều tốt, nó đem lại cho ta nhiều điều bổ ích nhưng tuyệt nhiên không phải là mê muội. Bởi mê muội tức là tự mình đi vào ngõ cụt rồi!

Chưa phân loại

Giai thoại làng cờ: Phải dám vượt ngưỡng tâm lý

Làng cờ Hà Nội có ba người cùng tên Khôi. Cao nhất trong số đó là ông Chử Xuân Khôi. Cùng bậc phía dưới Nguyễn Văn Khôi và Đào Cao Khôi. Ông Nguyễn Văn Khôi chơi cờ chủ yếu bằng kinh nghiệm, hay dẫn về cờ tàn Tốt. Có một kỳ thủ trẻ tên là Phùng Quân rất thích chơi với ông Nguyễn Xuân Khôi. Mỗi lần chú cháu gặp nhau ông Khôi chấp Quân hai tiên (cho đi trước hai nước).

Một hôm Quân nhà ta “bốc đồng” tuyên bố “xanh rờn”: chấp chú Khôi hai nước. Ông Khôi tức, đòi chơi một ván 10000 đồng. Quân líu lưỡi từ chối không được. Rồi Quân bảo: nếu chú muốn xin cháu thì cháu cho mười nghìn! Ông Khôi cười: chú lấy tiền của cháu làm gì? Chú thiếu gì tiền. Ông dốc túi ra một bọc tiền, có dễ đến vài triệu. Ông nói: đây là chú cháu chơi vui một ván, lấy mười nghìn uống nước cho có trách nhiệm. Mà cháu ngại thì chú chấp lại, hòa là cháu được! Kéo co một lúc, Quân đành lấy bàn cờ bầy quân. Ông Khôi quyết cho thằng cháu một bài học, buộc phải “cốp” tiền dưới bàn cờ.

Ván cờ kéo dài căng thẳng. Anh em bạn cờ xúm vào xem trận quyết đấu. Không gian im phăng phắc. Quân đánh rất chặt, cuối cùng thắng ván cờ!

Kể từ đấy mỗi lần chú cháu gặp nhau Quân và ông Khôi chơi bằng phân. Bỗng nhiên trình độ Quân tăng được hai nước.

Mà thật ra không có gì “bỗng nhiên” cả. Quân đã vượt qua ngưỡng tâm lý, sức cờ nâng lên là tất nhiên. Còn bạn, nếu gặp người cao cờ hơn mình bạn có sợ không?

Chưa phân loại

Quyết đấu với tâm không (2)

Giới hoàng thân quốc thích coi đây như là một sự thử thách đầy quyết liệt đối với danh dự và thế lực của hoàng gia. Giới quan triều cảm thấy như đây là một cuộc chiến tranh đấu trí giữa hai nước. Giới sĩ phu thở phào vì không khí im lặng nghẹt thở của sự thách thức tinh thần được giải tỏa. Quần chúng thì nô nức đón mừng sự cố như một phản ứng giải phóng mặc cảm thế yếu của ta đối với Tàu. Ván cờ quyết định số phận một mất một còn của Thái Ấp và bộ cờ tinh huyết thạch của Hàn gia bên Tàu lan rộng từ trong triều cho đến ngoài nội rất nhanh. Trong không khí thâm nghiêm của cung đình và nếp sinh họat phẳng lặng của một xã hội nông nghiệp, nguồn tin nầy bừng lên như một ngọn lửa rực rỡ làm lu mờ hết mọi thứ. Không một ai nghi ngờ phẩm cách cẩn trọng và tài năng thông tuệ của Trí Hải. Nhưng hầu như mọi người đều nơm nớp lo sợ trước sự ám ảnh của bộ cờ đầy huyền thọai và lịch sử đấu cờ siêu quần, vô địch của Hàn gia.

Những danh sĩ cờ tướng thần kinh và giới hoàng gia, sĩ phu… từ khắp nơi kéo về chốn thần kinh, cố tìm đến dinh ông hoàng để hiến kế, hỗ trợ, chúc lành cho Trí Hải. Lòng tự hào dân tộc ngủ sâu trong lòng nước bỗng vươn mình thức dậy. Một ván cờ tàn mua vui chẳng ai chú ý; nhưng một ván cờ quyết đấu giữa hai danh sĩ của hai nước lại trở thành một biểu tượng mới vượt ra ngoài biên cương cảm tính nhất thời. Những tấm lòng hào sảng mới đến sẵn sàng cho tất cả những gì mình có để chỉ mong được nhận một chút bóng dáng mình mơ. Nhưng tất cả đều thất vọng ra về khi cửa dinh vẫn đóng im lìm và người canh cổng cũng vắng bóng. Lá rụng đầy sân. Đèn nhà không thắp sáng.

Trong bóng tối và đèn chài soi cá hai bên bờ sông Hương, đêm đêm suốt cả mùa trăng, xuất hiện một chiếc đò lớn. Chiếc đò che kín mui, buông chèo để mặc trôi lờ lững trên phía thượng nguồn sông Hương. Từ trong đò có tiếng trao đổi khi nhanh, khi chậm, khi đuổi dồn, khi cách khoảng rất lâu và có lúc thì thầm, lúc bay bỗng đầy thống khoái của hai người đàn ông say sưa đánh những ván cờ mù. Đó là Trí Hải và Phạm Xảo đang luyện cờ như luyện kiếm. Bàn cờ và những thế cờ biến ảo của hai cao thủ nằm ở đâu đó vô hình nhưng hằn sâu trong trí nhớ. Những ván cờ mù đã tiêp diễn giữa Trí Hải và Phạm Xảo gần hết cả mùa trăng. Phạm Xảo trở nên sinh động, khi quyết liệt xông xáo như thời trai trẻ; khi trầm tư ẩn nhẫn như thuở hết thời. Những nước cờ biến hiện khi tấn, khi thoái, khi thủ, khi công… mang nguồn sinh lực năng động của trí óc về với ông già. Giữa mỗi cuộc cờ là một sự hiện hữu. Ông gìa quên đi sự ám ảnh ngày ra đi vừa ẩn hiện trong góc tối trăm năm của đời mình. Phạm Xảo càng linh hoạt trong những cuộc cờ tập trận thì Trí Hải càng thờ ơ trước những nước cờ thượng phong đầy ưu thế. Phạm Xảo càng trầm trồ bái phục tài “đơn xa sát vạn, song mã công thành” của Trí Hải chừng nào, càng ngỡ ngàng thấy rõ tinh thần của vị hoàng thân đang lơ đãng gần như xuống dốc đến hồi thấp nhất.

Trong tâm thức trầm lắng và sâu xa, Trí Hải suy niệm về vòng lẩn quẩn của những ván cờ biến hiện không ngừng. Cũng vẫn những quân cờ tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã… điều động bởi những đầu óc bừng bừng chất lửa, hai đấu thủ mang hai cái tôi to ngút trời quyết đấu. Mỗi bên đều quay quắt trong biển lửa, cố thiêu sống nhau bằng những đòn cay độc nhất. Bên cạnh tài ba cao thấp, vẫn thường xuyên đối mặt với sự thăng trầm phi lý của hoàn cảnh rủi may; của tài năng được thời, thất thế. Kẻ thắng, người thua quần thảo nhau không khoan nhượng. Hết cuộc này, bày cuộc khác. Tất cả trôi đi và trở lại với cùng khuôn mặt trơ lì ngày càng loanh quanh và mệt mỏi. Hai tay cao cờ đệ nhất như Hàn Kỳ Vương và Trí Hải gặp nhau, tất nhiên rồi cuối cùng cũng có người thua kẻ thắng. Bàn cờ không còn là nơi tiêu khiển nữa mà trở thành chiến địa chốn sống tình người. Rồi đây, Trí Hải là bại tướng không đất dung thân hay Kỳ Vương là kẻ mang tội làm điếm nhục gia phong vì không bảo vệ nổi bàn cờ gia bảo. Trí Hải như muốn ngộp thở khi nghĩ đến mạng lưới hệ lụy nhân sinh đang vây bủa lấy những con người. Có chăng một khung trời tự do trong cái cũi sắt vô hình nhưng không có lỗ thưa cho tâm hồn chui lọt đó.

Đến hết cuối mùa trăng tháng sáu thì Trí Hải không còn muốn nhắc đến những con cờ với Phạm Xảo hay với bất cứ ai. Ông trầm tư nghĩ đến những ván cờ một mình. Hết cờ rồi lại cờ. Đầu óc Trí Hải dày đặc với những con cờ, những cuộc cờ, những kẻ chơi cờ. Tất cả chợt biến và chợt hiện bềnh bồng đâu đó. Cờ reo trong gió, cờ đeo vào mây, cờ lung lay theo trái chín, cờ rụng xuống với những giọt nắng quái và lá vàng đầu thu. Đêm mất ngủ vì cờ, ngày quằn quại vì cờ. Những quân cờ quái ác vả vào mặt Trí Hải những đụng chạm mơ hồ nhưng rát mặt. Những ván cờ độc chiêu hết đường công phá xoắn lấy cân não không chịu buông tha.

Đã qua nhiều đêm Trí Hải dồn hết khả năng tinh thần và trí óc như một thiền sư để quán niệm về… cờ. Một nước cờ biến ra thành 10 nước khác. Mười nước cờ khác lại biến ra thành một trăm, một nghìn, một vạn, một muôn, một triệu, một ức, một khối… và cứ thế Trí Hải suy niệm đến 100 lần, cứ mỗi lần sau nhân lên gấp 10 lần trước. Nhưng phía đối thủ vô hình bên kia vẫn quyết liệt đón đầu phản công theo mỗi nước. Hai bên vẫn giằng co nhau không phân thắng bại. Trận quyết đấu âm thầm nhưng dậy sóng ba đào khủng khiếp trong lòng Trí Hải.

Hết suy tư về chiến thuật, chiến lược, Trí Hải lại thả trôi nguồn suy tưởng của mình về triết lý đánh cờ. Mỗi lần trôi dạt miên man như thế, Trí Hải lại nhớ về Paris, nhớ những ngày đánh cờ Tây với hoàng tử Cảnh, nhớ những ván cờ xóm đêm với giới thợ thuyền lao động quanh hè phố, mù trời khói thuốc Gaulois. Có hẹn từ đầu non lịch sử hay không hẹn mà gặp. Cả hai bộ cờ Tây và cờ Tàu đều có 16 quân cờ cho mỗi phe lâm trận. Cờ Tây 8 lính, cờ Tàu 5 lính. Ngự tại bản doanh thì cờ Tây có một vua và một tể tướng, cờ Tàu có một tướng và hai sĩ. Cờ Tây và cờ Tàu đều có 3 cặp voi, ngựa, xe. Cờ Tây không có súng mà cờ Tàu lại có súng. Vua, tư lệnh chiến trường trong cờ Tây, rất năng động và xông pha tung hoành trên mặt trận, trong khi Tướng tư lệnh chiến trường trong cờ Tàu hầu như bị giới hạn ràng buộc tại bản doanh. Lính trong cờ Tàu sang sông để mà hy sinh, bỏ mạng. Lính trong cờ Tây có cơ hội được vinh thăng lên hàng tướng lãnh nếu chiếm lĩnh được những vị trí chiến lược sau cùng trên đất địch.

Trí Hải nghĩ đến cái gốc của cờ tướng phát nguyên từ Ấn Độ, qua Trung Đông, đến châu Âu từ thời trung cổ. Đất Ấn là chiếc nôi của những nguồn lý thuyết siêu nhiên thần bí phương Đông và cổ Hy Lạp là chiếc nôi của lịch sử thần thọai phương Tây. Cờ tướng là một trò chơi tinh thần và trí tuệ để kéo con người và thần linh trở về với thực tại của cuộc sống. Đối mặt nhau trên bàn cờ là đối mặt với sự suy tư và sáng tạo. Vì có suy tư và sáng tạo nên con người mới hiện hữu và kéo được thần thánh từ thiên giới trở về trần. Trò chơi “Thiên biến vạn hóa” nầy rất gần với quan niệm “ngã sở, ngã tính” trong nhiều môn phái triết học nguyên thủy của Ấn Độ từ thời xa xưa, trước cả khi Phật giáo ra đời. Nó thay hình đổi dạng linh động theo hoàn cảnh mà không khư khư bám trụ vào cái “Ta- ngã sở” nguyên thủy của mình. Trò chơi biến hoá như một loài bạch tuộc ma trơi, không có một định tính rõ ràng mà có thể thay hình đổi dạng biến hiện không ngừng. Khi đến đấ Tàu, nó thành Tượng Kỳ, qua Nê Pan, Tây Tạng biến thành “Bụt Chỉ” (Buddhi Chal), vào Nhật thành Tướng Kỳ (Shogi), sang Thái thành Mã Khúc (Makruk), tới Đại Hàn thành Hàn Kỳ (Jianggi)… Trí Hải suy nghĩ về sức mạnh và tài năng của những tay cao cờ tuyệt luân, những kỳ vương Bắc đẩu.

Những tay cờ dòng dõi Hàn gia tiếp nối nhau đánh bại thiên hạ từ đời nầy sang đời khác là do đâu? Câu hỏi cứ lẩn quẩn như một ẩn số không có lời giải. Xưa nay, những nhân vật lẫy lừng trong thiên hạ ngoài tài năng kiệt xuất, còn phải có thủ thuật và bí mật chinh phục, thủ thắng khó so bì. Cờ tướng vừa là một cuộc đấu khả năng vận dụng cực kỳ lịnh hoạt và bén nhạy của trí; vừa là một cuộc thử thách quyết liệt sự kỳ diệu của tâm. Tâm an tịnh thì trí siêu thoáng; tâm bấn lọan thì trí mê cuồng; tâm sâu hiểm thì trí tà độc. Thế nhưng, những chiến thuật và chiến lược trong cờ tướng: Kế sâu, mưu hiểm, đòn ma, chước quỷ đều được tận dụng. Quỷ kế của ma vương hay kỳ mưu của bậc thánh đều được khâm phục trong thuật chơi cờ tướng, miễn sao đạt chiến thắng sau cùng là thành công, là đánh bại được đối phương. Người ta quan niệm dễ dãi như thế vì thù địch và xương máu trên bàn cờ chỉ là giả ảnh của cái đa mưu túc trí ở giữa cuộc cờ. Cái chết sẽ sống lại và sự chiến bại có thể phục thù. Nhưng trận cờ quyết đấu với Hàn gia là con đường mòn một chiều qua núi vì hai đối thủ trên bàn cờ sống thật và chết thật, dù sống chết dưới hình thức nào đi nữa thì một đi là mất lối quay về. Chết rồi không sống lại và chiến bại không còn cơ hội phục thù.

Những đêm sâu quán tưởng về cờ giúp Trí Hải mở dần những vòng trói buộc của những thế cờ trong trí tưởng. Những thế cờ kim cổ ghi trong sử sách như Kỳ Diệu Thư, Tượng Kỳ Bí Sử, Diên Tử An, Quất Trung Bí, Mai Hoa Phổ… là những thánh thư binh pháp của Trung Hoa trong cờ tướng. Đó là những truông hiểm, ghềnh sâu, vực thẳm, huyệt địa, điểm xoáy của dòng sông trôi chảy. Và đó cũng là những cẩm nang, bí kíp truyền đời để dụ địch thủ vào dòng xoáy mà nhận chìm thuyền vào tử địa của trận đồ đã được mai phục sẵn sàng, không lối thoát. Vẻ bình lặng trên bàn cờ chỉ là ảnh ảo để che mắt một trường sóng gió khi ẩn khi hiện, khi thật khi hư mà những kỳ vương đã dạn dày “mặt phong trần nắng rám mày râu…” phải e dè và cẩn trọng.

Một tháng đã đi qua, sự suy tưởng về cờ khi loé lên, khi chập chờn nhưng chưa một phút lụi tàn trong đầu làm Trí Hải liên tưởng đến 5 lối đánh cờ trong sách Kỳ Vương Lục của Vương Giản Chi đời Minh bên Tàu: Tiên kỳ, hội kỳ, phiếm kỳ, tượng kỳ và tuyệt kỳ. Tiên kỳ là những cuộc cờ đầy huyền thọai của tiên ông. Như Hoàng Thạch, Xích Tùng chơi cờ cùng gió cùng mây. Bàn cờ tiên đặt trên thạch bàn trong hang động. Các tiên ông mỗi năm chỉ hội ngộ một lần vào đêm Trung Thu nhưng các thế cờ vẫn đi luân phiên không ngừng nghỉ. Mỗi ông tiên có dịp dừng chân đi một nước trong cảnh núi thẳm mây bay “bạch vân thiên tải không du du” man mác một mình. Có khi hai nước cờ cách nhau cả mấy mùa trăng. Những ván cờ không phân biệt “ta” với “người” mà sự kết thúc mang lại niềm thống khoái thoát tục cho cả hai vị cờ tiên như giờ đắc đạo. Tuyệt kỳ là những trận thư hùng của hai cao thủ với những nước cờ thiên biến vạn hóa. Thế nhưng “… nước cờ nào cũng đòi hỏi sự bao bọc sít sao như vỏ lúa bao quanh hạt gạo. Hở một ly là tạo ra một khoảng cách từ biển đến trời”, như lời của Vương Giản Chi trong sách luận về nghệ thuật đánh cờ.

Y niệm “thắng ván cờ như giờ đắc đạo” chiếm ngự hết ý nghĩ của Trí Hải. Cái Đạo của phương Đông mới là cái gốc của cờ. Đạo là sức mạnh uyên nguyên, là gốc của Dịch. Dịch là tác nhân của Âm Dương để tạo ra tư tưởng, ý thức và hành động. Hàn gia dùng bàn cờ để chiếm ngọn mà nhổ bật gốc nên đã tạo ra cái thế “loạn kỳ” trong thiên hạ. Nên những thế cờ của Hàn Kỳ Vương là những ngọn cuồng phong, là thế tiến công, là uy lực chinh phục.

Trong tâm y lý thường lấy khinh an để trị tác loạn. Trong binh thư cũng có nói: “Biết dấy động đến chín tầng trời, cũng bằng biết dấu mình dưới chín lớp đất.” Ra quân với Hàn Kỳ Vương không phải chỉ đấu cờ đơn giản bằng cách di chuyển, tạo thế những quân cờ sắp sẵn trên bàn cờ mà cần phải biết dùng “đạo kỳ” để đem cái tâm lặng lẽ mà dẹp cái gốc ồn ào dấy loạn. Nhưng biết tìm cái tâm lặng lẽ ở đâu mà dựa; biết tìm cái trí an tịnh ở đâu mà làm vũ khí. Trí Hải càng cố nhắm mắt trầm tư thì những vọng tưởng lại hiện đến. Tạp ý khi phất phơ như gió nhẹ, khi khởi động như đám mây giông. Chúng kéo đến ùn ùn làm cho trí óc xiêu đổ như muốn nổ tung thành sấm dậy.

Trí Hải càng cố giữ tâm não trống không, những tạp ý càng khởi lên cố lấp đầy chỗ trống. Trí Hải cố quay đi để tránh, những tạp ý cứ săn đuổi bén gót. Người ta có thể dễ dàng xua đuổi một con voi nơi bìa rừng, nhưng lại khó khăn rủ bỏ bầy kiến trong ý niệm. Chân cứ sãi dài bước đi thoăn thắt, nhưng đầu không biết đi về đâu. Ra khỏi Thái ấp, qua khỏi mấy đồng lúa và theo lối mòn của vùng nương rẫy, Trí Hải men theo con đường đất đỏ, đá sỏi nhấp nhô. Cuối dốc lên độn sim, độn móc là lối mòn dẫn tới chân núi Trường Sơn. Mặt trời đang xuống dần bên phía Trường Sơn Tây nhắc nhở cỗ xe thời gian đang tụt dốc bên kia sườn đời của tuổi 50. Nắng xế chiều cắt ngang những ngọn cây cao, trả hai phần bóng mát lại cho phía đông Trường Sơn xanh mướt cây rừng trùng điệp.

Có nhà ai gần chân núi đang lên khói. Len lõi qua hốc đá và cây rừng tìm lại gần, Trí Hải chỉ thấy một người đốt than đang bưng nước suối trong ống lồ ô để dập tắt hầm than cháy đỏ. Cũng chẳng để ý có người đang lại gần, người đốt than có vẻ như đang chú mục để hết tâm ý vào công việc. Trí Hải cũng không muốn khuấy động bầu không khí yên tĩnh chỉ có tiếng gió rừng chiều và tiếng xèo xèo của nước dập tắt lửa. Thế nhưng khuôn mặt tự tại và phẳng lặng, cũng như dáng vẻ tươi tắn, linh hoạt của người đốt than giữa một thời điểm về chiều đầy mệt mõi trong ngày có một sức thu hút vô hình níu chân Trí Hải lặng lẽ dừng lại. Thật khó mà đoán biết được tuổi tác của người đàn ông đốt than. Nét từng trãi của tuổi già hòa quyện với nét măng tơ của tuổi trẻ làm cho ông ta có một vẻ gì vừa đáng kính vừa đáng yêu. Tay chân ông ta làm việc thoăn thoắt. Dáng khoan hòa và tươi cười rạng rỡ với chính mình và cảnh vật xung quanh. Khi bếp than tắt lửa và những sợi khói mỏng cuối cùng kéo lên ngọn cây bay xa, người đốt than ung dung leo lên phiến đá phẳng ngồi xếp bàn và nhắm mắt. Ngủ. Trí Hải không thể hình dung ra có người lại vô tư và đơn giản đến như thế. Trí Hải mệt mõi ngồi xuống cách một quảng không xa với người đốt than. Dáng ngồi vững chãi và phong thái hoàn toàn tĩnh lặng của ông ta chinh phục cả sự xao động về chiều của rừng cây lá. Trí Hải nhìn bức tượng người đốt than, nhìn quanh cây lá không màng đua chen danh lợi và nhìn lại mình. Ông ngạc nhiên khi đọc được nỗi bất an đang vây bủa lấy mình. Tại sao bao năm qua ông cố đi tìm một sự an trú tạm thời trong đời sống. Lớp sóng cũ vẫn còn gợn lăn tăn, ông lại để cho những đợt sóng mới phủ lên mình những ngọn trào vật vã. Vì vật cản trên đường đi cần phải dọn hay vì những thách đố phù du?

Trí Hải cảm nhận như có những làn sóng vô hình từ phía người đốt than đang ngủ ngồi trên phiến đá tỏa ra. Ông nhận ra sự yếu đuối của mình và cố co lại để che cho cái tự tính đầy quanh co và phản kháng đang bị chinh phục. Khối lặng im của rừng núi mạnh hơn là tiếng lao xao của thế giới người nhỏ bé dưới kia. Trí Hải cảm thấy như mình nhỏ lại. Chút kiêu hãnh nông nổi bọt bèo tan loãng. Ông líu ríu ngồi xuống để nép mình vào sự im lặng của núi rừng. Đầu óc dày đặc những ý nghĩ về cờ, về tranh thắng, về thủ hòa mỏng dần ra. Trí Hải có cảm tưởng như hơi lạnh của rừng chiều và cơn gió rừng thu ngát mùi tràm chổi đang thổi vào những khoang trống. Đó là không gian nội tâm vừa mới được khai thông trong dòng suy nghĩ còn vướng mắc bao nhiêu chuyện hơn thua giữa cuộc đời nầy.

Trên phiến đá, người đốt than vừa mở mắt đứng lên. Anh ta tươi tĩnh và chẳng có vẻ gì là vừa ngủ dậy. Anh rời chỗ ngồi, đến bới hầm than và chỉ nhặt một ít, rồi hốt bỏ vào cái bao đệm xách tay nhỏ. Anh ta nhìn trời, miệng hát nho nhỏ, không màng nhìn lại cái hầm than còn đầy do công khó anh ta làm ra, rồi xách bị than lửng thửng đi về. Bước ngang qua Trí Hải anh ta vẫn tươi cười, miệng hát nho nhỏ, thản nhiên như thể thêm sự hiện diện của một người nào đó trong khu núi rừng nầy cũng cũng chỉ là thêm một cục đá trong vô số cục đá vô tri, hay là thêm một gốc cây trong muôn vạn gốc cây rừng sinh và diệt chằng chịt muôn năm chẳng có gì đáng để ý.

Trí Hải lên tiếng trước:

– Chào bác tiều. Tình cờ đi ngang qua đây, tính ra mắt chào bác mà bác ngủ say quá nên tôi ngồi đây lâu rồi. Bác ngủ mà lại giống như ngồi thiền, hay thật!

Người đốt than dường như không nghe lời dạo đầu lịch sự của Trí Hải, hỏi lại:

– Thiền là cái chi?

Một câu hỏi gần như ngớ ngẩn phát ra từ một khuôn mặt có vẻ thông minh làm Trí Hải muốn bật cười, nên trả lời rằng:

– Thiền là cái trí giữ nhà và cái tâm đi ngủ!

Người đốt than gục gặc đầu:

– Đứa thức, đứa ngủ thì đứa nào quét nhà?

– Đứa thức không xả rác, đứa ngủ khỏi quét nhà.

– Đứa nào mê đứa nào tỉnh?

– Đứa nào làm tròn việc của đứa đó thì thức là thức, ngủ là ngủ, chẳng có mê hay tỉnh.

Người đốt than lại hỏi:

– Như kẻ đốt than nầy là mê hay tỉnh?

– Vừa tỉnh vừa mê.

– Sao kỳ vậy?

Trí Hải cười:

– Vì bác tiều đốt than theo kiểu nghịch đời. Người ta đốt than là để hầm than và ủ kín cho than tắt chứ chẳng ai lại đem nước suối tưới cho than đang đượm vội tắt như bác cả.

Người đốt than giơ hai tay lên trời cười thoải mái:

– Cây trong rừng thì muôn hình muôn vẻ mà đốt than thì xưa nay chỉ có một cách đốt than hầm thôi à? Người muốn than hầm, than chín; kẻ thích than tưới, than sống. Tìm một con đường riêng mà đi. Quanh quẩn đường mòn về chỗ cũ. Ích gì!

– Than là than mà củi là củi. Than sống mà củi chín ư? Lạ đời!

Sau câu trả lời của Trí Hải, người đốt than nói như nói một mình: “Cây cháy chưa hết ròn. Than non.” Anh ta lẳng lặng quảy bị than lên vai và bước đi, chẳng chào ai một tiếng.

oOo

Gần nửa đêm Trí Hải mới về tới nhà. Niềm an lạc và hưng phấn đến tình cờ giữa buổi chiều ngồi lặng lẽ trong cảnh đốt than giữa rừng không về cùng. Nỗi bồn chồn vẫn theo bén gót Trí Hải. Hình ảnh người đốt than đã gây một ấn tượng mạnh. Anh ta có vẻ như không có tuổi và không bị dính mắc vào hiện thực bon chen của đời sống xung quanh mình. Đêm dài trăn trở không ngủ được, Trí Hải ôn lại cảm giác ban chiều. Người đốt than đem cái tĩnh vào trong cái động; đem thái độ an nhiên tự tại vào trong công việc vất vả của nghề đốt than; đem lối suy nghĩ giản đơn và cụ thể vào trong nếp suy nghĩ rắc rối lẫn mơ hồ thường vây bủa và làm mệt mề đời sống tri thức. Trí Hải cứ băn khoăn tự hỏi tại sao ngồi lặng nhìn gã đốt than mà trong lòng mình lại cảm thấy bình an đến thế.

Hôm sau và hôm sau nữa, Trí Hải tìm đến chỗ bìa rừng cũ nhưng chỉ thấy bếp than lạnh lẽo nằm trơ vơ trong cảnh tịch liêu của khu rừng vào thu.

Rồi một buổi xế trưa khác, khi còn đi mon men dưới chân đồi, lòng Trí Hải bỗng rộn lên niềm vui khi nhìn thấy làn khói đốt than quen thuộc bốc lên nơi khu rừng cũ. Khi tới nơi, bếp than đã tàn và người đốt than đã ngồi ngủ yên trên phiến đá xanh. Trí Hải đến gần và cũng như lần trước, ngồi xuống lặng yên sau tàn cây nhỏ đối diện với người đốt than. Thật lạ lùng, cảm giác bình an lại đến. Những xôn xao của nếp sống đầy hệ lụy dường như đã quyện vào mây trắng lưng chừng núi mà bay về một nơi an nghỉ nào đó mất hút cuối trời. Khuôn mặt và dáng ngồi của người đốt than thanh thoát, an lạc và linh động như những đốm nắng lọc qua kẻ lá giữa rừng. Khi Trí Hải đến đây một mình, khu rừng vắng bóng người cũng thật phong quang và hùng vĩ nhưng vẫn thiếu mất một chút hơi ấm tỏa chiết của linh hồn. Con người là linh hồn của tạo vật. Uy lực của vũ trụ không phải là sấm sét mà là ý thức khai phá và tình cảm yêu thương của loài người. Ngồi lim dim suy nghĩ, Trí Hải cảm nhận sự im lặng của khu rừng và bóng người đốt than đơn sơ trước mặt đang trò chuyện với nhau bằng năng lực cảm thức mà ngôn ngữ là vô ngôn. Một giây an lạc thật hạnh phúc và đáng sống hơn một đời hệ lụy.

Người đốt than mở mắt với nụ cười thoáng rộng và vô tư khi nhìn thấy Trí Hải đã ngồi lặng lẽ ở đó từ bao giờ. Trí Hải chào tươi tắn:

– Chào bác tiều. Hôm nay bác ngủ khỏe hơn hôm trước.

Người đốt than vừa cúi bới hầm than, vừa giải thích:

– Thì cũng cho chúng nó nghỉ ngơi đôi chút.

Trí Hải ngạc nhiên hỏi lại:

– Ngoài bác tiều ra tôi có thấy ai nữa đâu mà gọi là “chúng nó?”

Người đốt than cười cười, vừa uốn éo cái đầu, vừa dang tay, dang chân ra diễn tả:

– Thì cái thằng đầu nầy; thằng mắt, thằng tay, thằng chân nầy…

Trí Hải tròn mắt ngạc nhiên:

– Đầu, mình, tay, chân… là thân thể của bác chứ có phải của ai đem ghép vào đâu mà bác lại phân biệt lạ lùng vậy?

Ra dáng suy nghĩ, người đốt than hỏi lại:

– Tôi hả? Tôi là đứa nào vậy? Có ai cho ai kiếp sống tạm bợ này đâu? Cha mẹ sinh ra một mảnh hình hài. Rồi người sinh con phải nuôi con. Ông làm ruộng, bà bán hàng, chú thợ may… họp nhau thành nhóm, thành làng, thành xã hội góp tay nuôi cho khôn lớn. Rồi cứ xoay vần, đến lượt cái hình hài khôn lớn nầy sinh con đẻ cái, lăn lưng ra làm trả lại theo cái vòng vay vay trả trả không ngừng. Trước khi sinh ra chẳng có hình hài nầy và sau khi chết cũng chẳng còn chi lưu lại. Nhìn trong khoảnh khắc nầy dường như có bác, có tôi. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc sau không ai chắc còn có tôi hay có bác. Hì… hì… chúng nó nghỉ rồi, bây giờ chúng nó phải làm để đổi lấy miếng ăn.

Người đốt than lại trở về với những động tác cũ. Trí Hải hỏi với vẻ ái ngại:

– Vì thấy bác làm nghề đốn củi, đốt than nên tôi mạo muội gọi là “bác Tiều”. Nay đã biết nhau, xin bác cho biết quý danh để xưng hô cho tiện.

Ông tiều xua tay:

– Ôi thôi! Bác để ý làm chi cái danh vị, hình tướng hảo cho thêm bận lòng. Một người, hôm nay là kẻ đốt than, mai kia là gã làm thuê, mốt nọ là đứa chèo đò, kia nữa là cái xác chết trôi… nào ai biết. Nhìn đây nầy. Tổ nhện xây trên tổ chim, tổ chim xây trên cành cây khô, cành cây khô là một phần của thân gỗ mục, thân gỗ mục mọc cheo leo trên ghềnh đá, cái ghềnh đá khập khiểng nầy có thể rơi xuống hố bất cứ khi nào. Thế mà con nhện vẫn thong dong đón mồi, con chim vẫn ấp trứng, nhành khô vẫn đong đưa…

Người đốt than nói chưa hết lời, có tiếng chân thú rẽ lá đuổi nhau, đàn nai chạy qua ghềnh đá. Thấy bóng người, đàn nai chuyển hướng. Nhưng bỗng muộn rồi, phiến đá gập ghềnh mà ông tiều vừa mới nói đã bứt ra khỏi triền núi và rơi dài xuống hố, mang theo lưới nhện, tổ chim, cành khô, thân cây gỗ mục và những con nai đang bị vùi lấp dưới đám bụi mù.

Bóng người đốt than đã đi xa khuất dưới chân đồi. Trí Hải vẫn chưa rời chỗ cũ. Một bụi cây hoang sơ lại là vùng an lạc.

Trí Hải ngồi sâu giữa bóng tối chạng vạng cho đến khi trăng lên. Gã tiều phu và con trăng mùa thu lạnh mát trên kia có một cái gì thật giống nhau mà Trí Hải chưa thể định hình, gọi tên cho rõ mặt. Dòng suy tư chờn vờn và lốm đốm chưa có một hình thù rõ nét như bóng trăng xuyên qua rừng cây. Ánh trăng dát vàng trên lá, nhuộm bạc trên đất, nhưng chỉ một thoáng gió đi qua, lá không còn nguyên điểm cũ thì ánh trăng cũng không còn để lại một dấu vết gì trên lá, trên đất. Cái gã đốn củi đốt than kia cũng thế. Gã không có một chút gì dính mắc dù chỉ là cái tên giả tạm. Gã không quan tâm tự nhận biết mình là ai. Cái đầu, cái tay, cái ý thức của chính gã đều được xem như là một tập hợp nối kết tình cờ và sẽ tan đi chẳng còn dấu vết. Con trăng phủ nhận dấu vết của ánh trăng, cũng như gã tiều phu phủ nhận cái tôi mà ai cũng tự cho là trọng đại của mình. Phải chăng vì thế, nên trăng mãi chiếu hoài muôn phương mà không hết sáng và gã tiều phu ngồi ngủ những giấc dài trong trong vắng lặng mà không bị thảng thốt giật mình bởi hoàn cảnh xung quanh níu kéo.

Sự chiến thắng xưa nay là một cách nói khác của sự sống còn trên xác chết. Sự vinh quang náo nức của người chiến thắng là nỗi tủi nhục ê chề của người chiến bại. Nụ cười của kẻ được là tiếng khóc của kẻ thua. Đôi mắt trong ngần không váng vất chút mê mờ tham vọng và nụ cười vô tư của người đốt than không ngừng hiện lên trong tấm gương soi mình tưởng tượng của Trí Hải. Trận cờ thư hùng sắp đến cứ sau mỗi đêm suy nghĩ lại nhạt dần ý nghĩa ban đầu của nó. Trận cờ như một thách đố phù du. Người thua sẽ bị chôn vùi tên tuổi và sự nghiệp. Người thắng cũng sẽ bị chôn vùi trong tham vọng và kiêu căng. Càng gần đến ngày hẹn đấu, Trí Hải càng ít quan tâm hơn. Không còn những buổi tập trận trên bàn cờ với Phạm Xảo và các danh thủ đất thần kinh. Trong lúc Phạm Xảo và mọi người ở phía phe nầy hay phe kia đang bị thiêu đốt vì sự nôn nóng lẫn lo lắng đang cháy ngùn ngụt về số phận của trận cờ sắp đến thì Trí Hải càng kéo dài hơn những phút ngồi tĩnh tọa trong rừng vắng. Tâm không dính mắc với cuộc cờ nên trí cũng chẳng tư lự với giới hạn hay thế cờ của phe địch phe ta.

Chiều hôm gần tối trước ngày hẹn của trận đấu Trí Hải vẫn còn trải lòng với cỏ cây trong rừng. Khi quảy bao than lên vai, khác với những lần trước, người đốt than đi chậm lại như có ý chờ Trí Hải cùng về. Trí Hải bước theo. Trên con đường rừng gập ghềnh nhá nhem tối, chẳng ai nói với ai lời nào. Chỉ có tiếng lạo xạo khô khan của bước chân trên đường sỏi đá là tâm đắc chuyện trò không ngớt.

Ánh đèn xóm đêm đã thấy xa xa. Người đốt than lên tiếng trước làm vỡ sự tĩnh mịch của buổi chiều trên đường vắng:

– Lý do nào khiến quý hữu vào rừng?

Trí Hải trả lời thành thật:

– Tôi muốn được yên tĩnh.

– Bị đời khuấy động lắm sao?

– Không hẳn thế. Nhưng có lẽ sự khuấy động dấy lên từ trong lòng mình.

– Thất tình, thất bại, thất sủng?

– Chẳng vướng “thất” nào cả.

– Vào rừng được gì?

– Được cái trống không.

– Cho ai?

– Cho một cuộc cờ sắp đến.

– Hiểu rồi!

Cuộc đối thoại thân tình nhưng nhấm nhẳn giữa hai người bỗng rơi vào lặng im. Lời nói không luôn luôn là phương tiện tốt nhất để chuyên chở ý nghĩ làm cho người ta hiểu nhau rõ hơn.

Qua bến đò khi sắp chia tay, người đốt than đột ngột hô lên:

– Pháo 2 bình 5! Đi… !

Trí Hải phản ứng một cách ngỡ ngàng:

– Bác tiều cũng biết đánh cờ mù à?

– Đi!

Sự thôi thúc như ra lệnh của người đốt than khiến Trí Hải phản ứng theo quán tính:

– Mã 8 tiến 7.

– Mã 2 tiến 3.

– Xe 9 bình 8.

– Xe 1 bình 2.

– Tốt 7 tiến 1.

– Hỏng!

– ?!

– Bị dính chặt với những thế cờ đã cũ thì có khác gì mượn cánh vịt đồng mà đòi bay vào vùng trời Đâu Suất!

Sau câu nói của người đốt than, hai người lại im lặng đi cho đến khi về đến khu đồng bằng dân cư. Trí Hải hỏi:

– Làm sao để khỏi hỏng?

– Tìm cái mới!

– Cái mới từ đâu?

– Từ trong cái cũ nhưng thoát ly cái cũ.

– Bằng cách nào?

– Đừng dính mắc!

Hai người lặng lẽ chia tay không một lời chào từ biệt. Cái giao tình bên ngoài có vẻ nhạt thếch. Quân tử chi giao đạm nhược thủy…

Trí Hải về dinh ngủ một giấc say sưa cho đến khi có tiếng gà gáy sáng. Lại tiếng gà tỉnh thức giữa dòng định mệnh trôi theo đường xuôi nẻo ngược. Trí Hải lẩm bẩm trong đêm vắng một mình: “Đừng dính mắc!” Ánh trăng chiếu muôn phương, tiếng gà vang xa khắp nẻo vì không bị vướng vào giới hạn giữa ta với người; không dính mắc vào những sản phẩm của tạo hóa bày ra đã cũ. Rồi trong dòng suy tưởng, cả 32 quân cờ xao xác tìm nhau. Không có bên này Sở hà, bên kia Hán giới. Không có bên nầy đương đầu pháo quá hà xe; bên kia bình phong mã, đấm tốt, bình pháo đổi xe. Những thế cờ đối công phản kích dính chùm giữa cuộc binh đao không lối thoát phải được hóa giải để đi tìm một con đường mới. Những quân cờ phải ra trận, phải đấu nhau như bánh xe phải lăn trên đường cái là chuyện tất nhiên. Không ai sắm những quân cờ để làm hoa trang trí cả. Nhưng quân cờ phải đi theo đường bay tâm trí của hai đối thủ quyết đấu sống chết đang ở giữa cuộc cờ. Làm sao “đừng dính mắc” giữa hai gọng kềm đối kháng mới chính là xương sống của hồi chung cục mà Trí Hải đang miên man nghĩ đến.

[i](Còn nữa)[/i]

Chưa phân loại

Cờ Tướng Khai cuộc cẩm nang: Chương I Khai cuộc – mấy khái niệm cơ bản (4)

[b]V. Vài nét về lịch sử phát triển khai cuộc[/b]

Để có thể tiếp cận với Cờ Tướng một cách thuận lợi, chúng ta cần tìm hiểu qua những chặng đường phát triển của nó, đặc biệt là tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của những thế trận ra quân, tức là khai cuộc. Từ việc tìm hiểu này chúng ta sẽ có cái nhìn khái quát và dự kiến được phần nào triển vọng của Cờ Tướng nói chung và các kiểu khai cuộc nói riêng trong tương lai.

Theo các nhà nghiên cứu thì Cờ Tướng tuy có nguồn gốc xuất hiện từ lâu đời nhưng phải đến thế kỷ 12 các hình thức bàn cờ, quân cờ và các qui tắc, luật chơi mới được sửa đổi, bổ sung đầy đủ giống như hiện nay. Vì từ đời nhà Đường, khoảng thế kỷ thứ 8, Cờ Tướng còn rất giống Cờ Vua, các quân đi trên các ô chứ không phải trên các đường và chưa có các quân Pháo. Mãi đến cuối đời Tống – tức là thời Nam Tống (1201 – 1276) mới có các quân Pháo, số Tốt giảm bớt, các qui tắc, luật chơi thay đổi thì Cờ Tướng mới phát triển mạnh trong dân gian, và cũng bắt đầu từ đó nhiều thế trận được xây dựng và định hình. Những thế trận đầu tiên xuất hiện là những trận đấu Pháo, gồm Thuận Pháo và Nghịch Pháo. Theo các nhà nghiên cứu thì những thế trận này rất sôi nổi và thịnh hành trong suốt nhiều thế kỷ. Do đó mà những quyển kỳ phổ cổ xưa nhất chỉ đề cập đến các kiểu chơi này. Như Du hí đại toàn (?),Kim bằng thập bát biểnK, Thích tình nhã thú và đặc biệt là Quất trung bí giới thiệu khá sâu sắc về các trận Thuận Pháo và Nghịch Pháo. Trong các thế kỷ 15, 16 bắt đầu xuất hiện nhiều kiểu chơi mới, nhưng phải đến cuối thế kỷ 17, sau khi Vương Tái Việt xuất bản quyển Mai hoa phổ thì các trận Bình Phong Mã, Đơn Đề Mã, Chuyển Giác Mã và Quá Cung Pháo mới thực sự thịnh hành.

Có thể nói Cờ Tướng từ khi định hình đến thế kỷ 19 là thời kỳ khai phá, xây dựng nền tảng với sự xuất hiện nhiều chiến lược dàn quân cơ bản để vào thế kỷ 20, Cờ Tướng tiến lên thời kỳ phát triển rực rỡ đầy sáng tạo. Thế nhưng nhìn lại chặng đường từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 19, ngoài một số thành tựu đáng phấn khởi, cũng cần thấy những mặt hạn chế của thời đại. Đó là số lượng cổ phổ còn lưu lại quá ít và các danh kỳ viết sách, phần lớn nặng về “chủ nghĩa kinh nghiệm” chứ chưa có sự phân tích, lý luận để làm sáng tỏ các vấn đề. Mặt khác, các tài liệu, sách cổ thường không khách quan, trình bày các thế trận thiên lệch một bên nên không thuyết phục cao người xem. Một số thế trận mang tư tưởng tấn công táo bạo, bất chấp nguy hiểm và không cần đếm xỉa gì đến thế phòng thủ bên nhà, chỉ biết tấn công chiếu bí cho được Tướng đối phương mà thôi. Điều này cho thấy các tài liệu, sách vở thời xưa chưa đặt vấn đề nghiên cứu một cách công bằng và khách quan để người sau có thể kế thừa và phát huy một cách thuận lợi.

Sang thế kỷ 20, các danh thủ kế thừa tất cả những tinh hoa, thành tựu của những thế kỷ trước nhưng đồng thời cũng thấy những mặt hạn chế trên nên họ ra sức sáng tạo bổ sung. Với quan điểm đúng đắn, khách quan, họ nghiên cứu nhiều kiểu khai cuộc mới có kết hợp giữa lý luận và thực tiến, so với những quyển kỳ phổ cổ xưa thì có một khoảng cách rõ rệt.

Các thế trận mới như Tiên nhân chỉ lộ, Phản Công Mã, Thiết Đơn Đề, Uyên Ương Pháo, Sĩ Giác Pháo… đều là những sáng tạo của các danh kỳ ở thế kỷ này, đã làm cho các kiểu ra quân thêm phong phú, đa dạng. Thế nhưng các danh kỳ đương đại không dừng lại đó. Cùng với những trào lưu cách tân, đổi mới trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, thẩm mỹ, âm nhạc, hội họa… làng cờ cũng có nhiều tư duy mới.

Thật vậy, làng cờ Trung Quốc cũng như làng cờ Việt Nam và nhiều nước khác từ các thập niên 60, 70 bỗng nổi lên những luồng gió mới muốn “cách tân” nhiều thế trận xưa cũ mà nhiều người đã bắt đầu nhàm chán, để tạo ra những kiểu chơi mới hấp dẫn, sinh động hơn. Tư tưởng chiến lược dàn quân hiện đại tuân thủ các nguyên tắc ra quân, tức là triển khai toàn diện quân hai cánh rồi mới bắt đầu mở những đợt tấn công. Đa số các danh thủ đương đại đều thiên về tư tưởng tấn công nhưng không mạo hiểm, liều lĩnh đến mức “chiến thắng hay là chết” mà phương châm phải là “phi thẳng tất hoà”. Do đó mục tiêu trong giai đoạn khai cuộc chủ yếu là giành thế chứ không phải là ăn quân. Nếu đi trước thì phải duy trì lâu dài quyền chủ động tiến lên chiếm ưu thế và phát huy ưu thế càng lúc càng lớn hơn; ngược lại bên đi sau cố gắng tranh giành các vị trí tốt, hạn chế quyền chủ động của đối phương tiến lên đạt thế cân bằng và giành quyền chủ động.

Vấn đề thế và lực lượng như trên đã nêu, các danh thủ đều nhất trí với các quan điểm của những người đi trước và biết tận dụng tạo nên nhiều tình huống căng thẳng, quyết liệt. Tiêu chuẩn của những ván cờ hay chính là có nhiều tình huống gay cấn, căng thẳng và có những đòn đánh phối hợp lý thú. Do đó kiểu chơi mới thường có những trường hợp hi sinh quân để lấy thế, đồng thời né tránh những kiểu đổi quân đơn giản để tạo cho thế cờ thêm phức tạp. Những tình huống “các hữu cố kỵ” tức là hai bên đều có những chỗ nguy hiểm “chết người”, ngày trước người ta không dám thực hiện thì ngày nay các danh thủ lại thích chơi, thử thách thần kinh lẫn nhau. Để duy trì thế căng thẳng, phức tạp họ thường chuyển thế trận ban đầu thành những thế trận khác, như từ Đơn Đề Mã thành Bán Đồ Liệt Thủ Pháo, từ Thuận Pháo thành Bình Phong Mã, Phản Công Mã hay ngược lại. Điều này đòi hỏi những người chơi cờ hiện đại phải có một kiến thức rất uyên bác về nhiều loại khai cuộc khác nhau.

Tóm lại, lịch sử hình thành và phát triển khai cuộc là một quá trình tiến lên không ngừng, từ chủ nghĩa kinh nghiệm đến tinh thần khoa học, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, từ sơ khai đến hoàn thiện và ngày càng hoàn thiện ở đỉnh cao hơn.

Biết được lịch sử hình thành và phát triển này để chúng ta luôn luôn nhạy bén với những cái mới, nắm bắt được những thành tựu đương đại. Trên cơ sở này chúng ta cần phát huy ngày một cao hơn, làm cho Cờ Tướng mãi mãi là một trò chơi trí tuệ luôn hấp dẫn, sinh động đối với cuộc sống của con người.