[b]Ván 8: SONG LĂNG TRẬN[/b]
Trắng đi trước thắng.
[game solutionday=7]
FORMAT WXF
GAME SONG LĂNG TRẬN
RED Trắng
BLACK Đen
RESULT 1-0
FEN 9/4a4/3P1k3/2p3p2/3R1r3/4C4/3H1r3/2p3h2/3p1p3/4K4 w – – – 1
START{
DIAG{ #1 RED }
1. B6-5 Tg6/1 2. B5.1 Tg6-5
3. M6.5 Tg5-6 4. X6.3 Tg6/1
5. X6.1 Tg6.1 6. M5.6 Tg6-5
7. X6-5 Tg5-4 8. P5-6 Xs-4
/*Nếu Tg4.1 tất nhiên X5-6 chiếu bí*/
9. X5-6 Tg4/1 10. M6.8 }END[/game]
Related Posts
Máy chơi cờ Turk
- Phạm Hồng Nguyên
- 29/11/2005
- 0
[img]xq237-1.gif;right;Kempelen (1734-1804)[/img]Vào năm 1780 một người tên là Wolfgang von Kempelen đã chế tạo và mang ra trình diễn một chiếc máy chơi cờ hoàn chỉnh. Máy được đặt tên là Turk (người Thổ Nhĩ Kỳ) và rất nhanh chóng nổi tiếng trên toàn châu Âu và châu Mỹ. Nó có thể đấu trực tiếp với người chơi cả ván cờ và đã thắng nhiều người. Nổi tiếng nhất trong số người thua là Napoleon Bonaparte. Tác giả đã mang máy đi trình diễn nhiều nơi và nó đã mang lại cho ông ta sự nổi tiếng và rất nhiều tiền bạc.
Máy Turk có hình một con búp bê ngồi bên một cái bàn. Cái bàn có chứa các máy móc chơi cờ. Búp bê có kích thước bằng người thật và dùng tay để di chuyển quân cờ. Trước trận đấu, tác giả thường giảng giải rất kỹ lưỡng cơ cấu của máy cùng với nhiều chi tiết minh họa để chứng minh là cái máy này tự động chơi được cờ. Sau đó ông ta mở búp bê và các ngăn máy ra cho công chúng nhìn vào bên trong để kiểm chứng rằng không có ai núp trong đó ngoài máy móc. Do đó đa số công chúng, kể cả nhà văn nổi tiếng thời đó Edgar Allan Poe đều tin cái máy này thật sự chơi được cờ.
[img maxheight=350 maxwidth=350]xq237-0.jpg;center;[/img]
[img maxheight=350 maxwidth=350]xq237-2.jpg;center;[/img]
Sự thật đã được giữ kín trong vòng 50 năm. Sau khi Kempelen mất, chiếc máy đã được chuyển sang tay nhiều chủ khác và vẫn được tiếp tục mang đi biểu diễn vòng quanh thế giới.
Cho đến một ngày có đám cháy xẩy ra gần nơi để chiếc máy. Sau những tiếng hô “cháy cháy” người ta thấy chiếc máy động đậy với vẻ “hoảng sợ” và rồi… có một người với thân hình bé nhỏ chui ra. Hóa ra chiếc máy này chơi cờ bằng… người thật chứ không phải bằng máy móc.
[img maxheight=350 maxwidth=350]xq237-3.jpg;center;[/img]
Hình dưới minh họa cho thấy bóng đen là người chơi cờ ẩn giữa các máy móc và cách người này tránh né như thế nào khi tác giả mở cho công chúng xem từng khoang máy móc khác nhau và cách anh ta thò tay ra để đi quân cờ. Các bộ phận phức tạp và các cơ chế rắc rối khiến người ta không thể mở mọi khoang và ngăn kéo ra xem cùng một lúc, đủ để cho người nấp chuyển sang ẩn trong các phần khác nhau của máy.
[img]xq237-4.jpg;center;[/img]
Chỉ đến khi máy tính điện tử và các chương trình cờ xuất hiện, chúng ta mới có được những chiếc máy biết chơi cờ thật sự mà không cần phải có người “núp” bên trong.
[i](Sưu tầm, tổng hợp từ Internet)[/i]
[b]Chú thích:[/b]
Bài này đã được đăng trên tạp chí PCWorld Việt Nam, số tháng 10 năm 2000 và thuộc loạt bài cho giải Cờ tướng Máy tính do trường Đại học Quốc Gia Hà Nội và tạp chí PCWorld Việt Nam tổ chức.
Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương Đông (3)
- Tùng Lâm
- 12/02/2006
- 0
Khi Chaturanga tới được Trung Quốc thì người Trung Hoa vừa chơi vừa ngẫm nghĩ: rằng hay thì thật là hay nhưng lại quá lạ lẫm và có cái gì đó có vẻ “không ổn” đối với một đất nước Khổng giáo theo khuôn phép “trung quân ái quốc”, trên dưới nghiêm ngặt, con người sống theo đạo lý phương đông “nhân nghĩa trí dũng”. Việc trên mỗi bàn cờ có một vị vua, vạn bàn cờ có vạn vị vua mà từ người lớn tới trẻ con, từ kẻ giàu tới kẻ hèn cứ thi nhau rượt đuổi để chém chết vua. Trước khi nhấc vua ra khỏi bàn người ta còn đập một cái “chát” nảy lửa lên đầu vua rồi nhìn vua nằm chết lăn quay mà phá ra cười hể hả. Tất cả những điều đó không chỉ động chạm tới phép “kỵ húy” mà còn là một sự ngỗ ngược, phạm thượng công khai và biết đâu từ đó sẽ nảy ra ý đồ phản nghịch của những “loạn thần tặc tử”.
Không thể để một loại cờ “ngoại” làm bại hoại “luân thường đạo lý” như thế. Nhưng nói cho cùng thì loại cờ mới lại rất hay, ai cũng thích chơi, dẫu có ngăn cấm thì vẫn còn khối kẻ chơi lén lút.
[img]xq378-3.jpg;center;[/img]
Các đại thần bèn đi tới quyết định: vẫn để chơi nhưng phải thay đổi triệt để, phải xoá tan những dấu vết kích động sự “phản nghịch”, phải Trung Hoa hóa cờ này về mọi phương diện, biến của ngoại thành của nội. Ở một đất nước như Trung Hoa thì ý của bề trên được coi như “thánh chỉ”, thần dân chỉ có việc nhất nhất tuân theo chứ không còn bàn cãi gì thêm. Cuộc cải cách cờ Tướng được thần dân chấp hành răm rắp. Điều đó giải thích tại sao việc cải cách cờ Tướng diễn ra rất thành công và hoàn chỉnh tới mức ngót một nghìn năm qua nó hoàn toàn ổn định, không có thêm bất kỳ sự thay đổi nào trên bàn cờ, trong khi trong suốt thời gian đó, cờ Vua đã phải trải qua rất nhiều cải tiến mới có được cờ Vua như bây giờ.
Trước tiên họ “làm phép” để biến “vị thiên tử” thành một “tướng quân” nhằm chấn dứt sự “mang tiếng” tệ hại nhất. Đã thành Tướng rồi thì thiên hạ tha hồ mà chém giết. Ở đất nước này trận chiến nào mà chẳng có tướng rơi đầu dưới gươm. Thật là một sáng kiến hết sức khôn ngoan để tránh tiếng, không ảnh hưởng gì tới “đương kim thánh thượng”. Nhưng về thực chất thì [b]đó vẫn là vua[/b], ta phân tích kỹ ở phần sau.
Thế nhưng người Trung Hoa không dừng lại ở chuyện rất chi là “hình thức” ấy mà họ quyết tâm cải tiến cả phần nội dung. Họ không quan niệm cờ là một bãi chiến trường như cờ Vua được, hai bên phải là hai quốc gia giao chiến. Cuộc chiến ở Trung Quốc thường là giữa các quốc gia như Hán, Sở, Tề, Yên, Tần, Triệu… Đã là quốc gia thì phải có biên cương phân định rạch ròi. Thế là sông (từc “hà”) ra đời. Mỗi quốc gia phải có thành quách, cung cấm, thế là cửu cung được hình thành. Việc sắp xếp thế nào để phải tạo ra sự cân đối, có ngôi độc tôn. Tới đây một bước ngoặt rất quan trọng đã được những bộ óc thông minh phi thường phương Đông táo bạo đề xướng: xóa bỏ hoàn toàn việc sử dụng các ô đen trắng xen kẽ nhau và việc đặt các quân vào 64 ô này. Thay vì các ô người ta chuyển sang đặt quân trên đường kẻ. Có như thế mới đáp ứng được các tiêu chí trên.
Sự thay đổi này mang lại hai ý nghĩa vô cùng quan trọng: Thứ nhất, tạo ra sự đối xứng, với trung tâm là “tướng” mà được ngầm hiểu đó chính là vua. Vua phải ở trung tâm, là ngôi độc tôn, phải ở trong cung cấm. Hai bên là hai cận thần (Sĩ phò tá). Bộ ba này không bao giờ được phép rời bỏ cung cấm theo quan điểm “nước một ngày không thể không có vua”. Khác hẳn với Chaturanga là vua có thể chạy lông nhông sang cả bên trận địa đối phương. Tên là quân Tướng nhưng thực chất là Vua một trăm phần trăm (nên có thể nói cờ Tướng đúng ra phải gọi là cờ Vua, còn cờ Vua thì cứ xem cách hoạt động của vua trên bàn cờ thì nên gọi là cờ Tướng mới chính xác).
Tiếp theo là hai con Tượng (voi) cũng thuộc đội vệ binh vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa phòng thủ từ xa, nhưng không được sang bên trận địa đối phương vì người ta nhận ra rằng nếu chỉ có hai anh Sĩ “trói gà không chặt” bảo vệ vua thì vua dễ chết như chơi. Kế đến là đội quân dã chiến gồm kỵ binh và xa trượng. Nhìn vào ta thấy đó là cả một triều đình hoàn chỉnh: có thành cao hào sâu, có cung cấm, có bá quan văn võ xếp hàng đối xứng chầu hai bên, có các binh chủng quan trọng nhất, theo đúng sự cân đối trong mọi cấu trúc của Trung Hoa.
Thế nhưng ngay lập từc một vấn đề không nhỏ xuất hiện: nếu ở Chaturanga với mỗi hàng 8 ô thì 16 quân bố trí thành 2 hàng vừa vặn và đẹp đẽ. Còn ở đây, nếu một hàng đã chiếm mất 9 quân, thì 7 quân còn lại sẽ bố trí ra sao để vẫn giữ được sự cân đối? Quả là nan giải với số 7 lẻ, nhưng rốt cuộc cũng được người Trung Hoa giải quyết trọn vẹn, tài tình: Trước tiên người Trung Hoa đã biết thoát khỏi “khuôn phép” của Chaturanga là cứ phải bố trí hai hàng quân liền kế nhau. Theo họ cách bố trí như thế là khiên cưỡng, làm cho toàn bộ các quân đứng phía sau bị “đóng băng” rất khó “cựa quậy”, mà theo binh pháp Tôn Tử của Trung Hoa, đây là điều tối kỵ. Với phép dụng binh biến hóa theo “Bát quái trận đồ” thì tất cả các cửa đều phải liên thông, tạo ra sự biến hoá khôn lường, cực kỳ linh động. Ở đây có sự vận dụng tư tưởng của binh pháp Trung Hoa để giải quyết việc cải cách Chaturanga.
Trước hết, họ giảm 7 quân Tốt còn có 5 và dứt khoát đẩy hẳn Tốt lên sát biên giới theo quan niệm “lính trấn biên ải” đồng thời chúng trở thành lực lượng xung kích vượt trường giang tràn sang đất địch. Với 5 Tốt đứng cách đều ở 9 đường dọc, xem ra cân đối, hài hòa biết bao. Cũng từng có người giải thích việc sử dụng 5 Tốt là do xưa kia người ta tổ chức lính thành nhóm 5 một. Cách giải thích này hoàn toàn không thoả đáng vì mỗi thời một khác: có thời người ta bố trí theo kiểu “tam tam” tức là 3 lính thành một nhóm, có thời người ta lại bố trí 12 lính thành một cơ đội (như tiểu đội bộ binh hiện đại). Việc bố trí năm Tốt trên bàn cờ chủ yếu là do cấu trúc của bàn cờ quyết định.
Như thế 14 quân đã được bố trí xong, còn lại 2 quân. Như thế là tên các quân cờ theo như tên của Chaturanga, nào là Vua (Tướng), Cố vấn (Sĩ), Tượng binh, Kỳ binh, Chiến xa, Bộ binh thế là hết rồi. Hai quân còn lại sẽ có tên gì đây. Rõ ràng là trên bàn cờ Chaturanga được Trung Hoa hóa hai quân này sẽ phải có tên hoàn toàn mới lạ. Những bộ óc kiệt xuất của đất nước này, sau nhiều suy nghĩ đã nảy ra một ý tưởng mang tính đột phá cực cao: sáng tạo ra quân Pháo. Quân cờ thần diệu này sẽ là cốt lõi và tinh hoa của cờ Tướng. Nó đưa cờ Tướng tới một địa vị vẻ vang không ngờ, cho đến tận ngày nay, tất cả những học giả phương Tây khi nghiên cứu về văn hoá Trung hoa khi nghiên cứu tới cờ Tướng thì thảy đều vô cùng kinh ngạc và khâm phục trước cặp Pháo thần tình, độc đáo với những tính năng phi thường, cách đi và bắt quân diệu ảo của nó. Chính cặp Pháo đã làm cho cờ Tướng khác xa cờ Vua và vượt lên một bậc rất cao so với Chaturanga cổ xưa vốn dĩ khá chậm chạp và còn nhiều ách tắc. Vâng, sau ngót nghìn năm tồn tại, một kết luận chắc nịch đã được đúc kết “Pháo là linh hồn của cờ Tướng”. Người châu Âu cũng đã sử dụng pháo trên chiến trường rất lâu, nhưng những bộ óc thông minh bậc nhất châu Âu chưa hề nghĩ tới phương án đưa Pháo vào bàn cờ.
Nước đi của Pháo mới lạ lùng và thú vị làm sao: tiến lùi ngang dọc y như Xe, nhưng đến khi khai hỏa thì chúng như một dàn hỏa tiễn bắn lên không trung theo hình cầu vồng rồi “rót” xuống đầu đối phương. Như thế chính người phương Đông đã biến bàn cờ chỉ có hai chiều (mặt phẳng) thành bàn cờ có ba chiều (có cả chiều cao) tức là từ “diện tích” trở thành “không gian”. Cũng có nghĩa là cuộc giao chiến không chỉ ở mặt đất như Chaturanga hay ở Vua mà còn ở cả trên không trung nữa (như tên lửa mang đầu đạn vậy).
Chính là cờ Tướng chứ không phải loại cờ nào khác nhờ những đòn đánh Pháo mà trở nên cực kỳ sinh động, hấp dẫn, với những ý tưởng tấn công hay hiệp đồng tấn công táo bạo, bay bổng đến mức không ngờ. Cặp Pháo được đặt ở hai vị trí lý tưởng: đi ngang hay đi dọc đều thông suốt và đều phát huy “hỏa lực”, tới mức tối đa, mà Đương đầu Pháo được coi là trận “xáp lá cà” hấp dẫn bậc nhất. Pháo là tinh túy của cờ Tướng tới mức từ cổ chí kim, tất cả các tác phẩm kinh điển của Tượng kỳ không có quyển nào là không đề cập tới những đòn đánh Pháo, từ Quất Trung Bí, Mai Hoa Phổ cho tới Bách Cục Tượng Kỳ Phổ, Phản Mai Hoa… cho tới tận thời kỳ đương đại, những quyển sách chuyên về Pháo vẫn chiếm đại đa số trong kho tàng lý luận và thực tiễn cờ Tướng.
[img]xq110-0.jpg;right;Pháo là tinh túy của cờ Tướng[/img]
Người ta đã đổ không biết bao nhiêu giấy mực và công sức để nghiên cứu những đòn đánh Pháo từ khai cuộc, trung cuộc tới tàn cuộc. Có tới hàng chục, thậm chí ngót trăm thế trận của Pháo, tử đơn Pháo tới đôi Pháo, Pháo tấn công, Pháo phòng thủ, Pháo kẹp quân, Pháo ngáng đường đối phương, Pháo cản Mã, Pháo giơ lưng đổ đòn cho những nước chiếu tướng chết người, ở tàn cuộc Pháo hợp với những anh Sĩ “thư lại” ngay tại hoàng cung của mình hoàn toàn có thể tiêu diệt Tướng đối phương ở xa tít mù trong cung bên kia. Pháo có thể phát hỏa ngay khi cuộc cờ mở màn mà cũng có thể lẳng lặng chui vào góc kín nằm chờ thời cơ hay chơi đòn độc cùng Xe thực hiện nước “chiếu rút” kinh hoàng. Những nước chiếu rút lặp đi lặp lại như thế chẳng khác nào chiếc cối xay lần lượt nghiền nát lực lượng đối thủ… Còn có những thế trận Pháo được đặt tên như Uyên ương Pháo, Quy bối Pháo, Thiên phong Pháo… biết bao hấp dẫn và đồng thời cũng mở ra những cuộc tranh luận không ngớt về tính nghệ thuật, điểm mạnh điểm yếu, cái hay cái dở của từng thế trận, cho đến nay cuộc tranh luận vẫn không hề ngừng.
Cứ nhìn vào bàn cờ Tướng và bàn cờ Vua ta sẽ thấy cách bố trí ba lớp quân ở toàn trận địa của cờ Tướng thật là sinh động, có tầng có lớp và mang ý nghĩa rất rõ rệt. Trong khi Tướng được bảo vệ bằng ba vòng vững chắc thì việc công kích đối phương cũng rất thông suốt. Không phải tất cả các quân đều được phép xông sang đất địch như cờ Vua mà là có kẻ được xông ra chiến trận, có người phải luôn ở nhà. Mỗi một quân được xác định một vai trò dứt khoát và bình ổn từ đầu cho tới cuối ván cờ, không có những biến động như kiểu được “phong cấp” ở cờ vua và cũng rất ít những ngoại lệ cần phải ghi nhớ. Các quân đều cơ động, thoáng đãng, ngay ở khai cuộc cũ nó đã có tới hàng chục nước ra quân linh hoạt, thậm chí hai bên có thể bắn phá tiêu diệt nhau ngay, không quân nào “chèn ép” quân nào. Việc mất mát một vài Tốt ngay từ đầu cũng không thành một “thảm họa” như trong cờ vua. Cờ tướng mang đậm tính cách và quan niệm về chiến cuộc của người phương Đông.
Giao lưu bạn đọc ngày 31/10 Màu quân cờ
- Bạn Cờ
- 31/10/2005
- 0
[i]Thân chào,
Xin được có ý kiến là:
Ngày xưa khi bàn cờ Tướng được dùng với quân ĐEN và quân TRẮNG, nhưng bây giờ đã đổi thành quân XANH và ĐỎ, nhưng các bạn vẫn quen gọi theo kiểu cũ là quân ĐEN và TRẮNG, điều này làm cho chúng tôi (những người đang học cờ) lẫn lộn và khó theo dõi, vậy các bạn có thể vui lòng gọi là quân XANH và Đỏ được không? Rất cám ơn qúi bạn?
CAO Thân[/i]
Xin cám ơn bạn đã góp ý.
Thật ra “ngày xưa” không có qui định bắt buộc nào về mầu, phân biệt bên, bên đi trước của cờ Tướng. Có chăng chỉ là các qui ước mang tính chất cục bộ đối với làng, vùng hoặc dùng trong một số sách cờ. Do vậy các qui định đó khá nhiều, khác nhau và gây nhiều hiểu nhầm. Ta thử điểm qua một vài qui định:
– Đen/Trắng với bên đi trước là đen (theo luật “hắc giả tiên hành): hay gặp trong các sách cờ ở miền nam. Đôi khi gây sự hiểu nhầm: đây là mầu chữ hay mầu nền? (quân trắng có chữ trắng hay mầu nền trắng?). Một số sách cờ Trung quốc cũng dùng như vậy.
– Đen/đỏ: Theo sự tìm hiểu của tôi, hay được dùng trong sách cờ ở miền bắc. Một số sách cờ Trung quốc cũng dùng như vậy.
– Xanh/đỏ: Tôi ít thấy sách báo dùng cặp mầu này, đơn giản là khi in đen trắng dễ gây ngộ nhận. Thường các chương trình cờ máy tính lại dễ dùng hơn. Khi xuất bản lại quyển sách “Cờ Tướng nhập môn” với chương trình CCW chúng tôi đã chủ động dùng cặp mầu này. Ưu điểm của cặp mầu này là đẹp, không sợ nhầm trên máy tính, nhược là chẳng giống ai và khó đưa trở lại in ấn.
Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã ban hành Luật cờ tướng, trong đó qui định rõ ràng về tên gọi, mầu quân cờ, bên đi trước và thậm chí in hình quân cờ nên không thể nhầm lẫn và ngộ nhận nữa. Luật này cũng tương đối giống Luật cờ Tướng Châu Á. Chúng tôi quyết định theo triệt để bộ luật này. Có thể bạn và một vài người khác quen kiểu khác lúc đầu sẽ cảm thấy bất tiện. Nhưng chúng tôi tin rằng các bất tiện đó có thể dễ dàng vượt qua, và việc tuân thủ qui định này ít ra cũng tốt cho những người mới bắt đầu chơi cũng như tương lai con em chúng ta.