[img]xq367-0.jpg;right;Nguyễn Thành Bảo và chiếc cúp vàng giải trẻ năm 1998 (ảnh VT)[/img]Nguyễn Thành Bảo (Bảo Thái Bình) – người Việt Nam đầu tiên đem được một chiếc cúp vàng cờ Tướng ra khỏi Trung Quốc (giải trẻ 1998), người đã từng làm nhiều Đại Kỳ sư của Trung Quốc phải e dè nể sợ qua các ván đấu xuất thần của anh. Bảo đã làm giới thạo cờ tốn không ít giấy mực về những chiến công cũng như những lúc phong độ thất thường…
Related Posts
Luật cờ Tướng
- Amin
- 30/10/2005
- 0
[img]xq172-0.jpg;right;[/img]Quyển Luật Cờ Tướng này do Liên đoàn cờ và ủy ban TDTT ban hành. Tất cả đều đã được luật quy định rõ ràng và chi tiết, kèm theo những giải thích minh bạch. Trong luật còn hướng dẫn cách ghi biên bản, cách chơi có đồng hồ đo thời gian, hướng dẫn làm điều lệ của một giải cờ như thế nào…
[i](Đã đăng trọn quyển)[/i]
Cờ tướng – cuộc cải cách phi thường – dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của phương đông (13)
- Tùng Lâm
- 10/04/2006
- 0
Tuy Việt Nam nằm lân cận các nước có truyền thống chơi cờ Tướng lâu đời, thế nhưng trừ những chuyến đi du đấu giang hồ thì những cuộc thi đấu chính thức trong suốt thế kỷ 20 hầu như rất ít được tiến hành. Nếu có chăng cũng chỉ là những chuyến giao hữu hiếm hoi mà một trong những cuộc cờ giao hữu như thế được tiến hành vào đó nó dịp Tết Bính Ngọ (1966), Trung Quốc đã từng chính thức cử 3 danh kỳ hàng đầu của họ là Dương Quan Lân, Thái Phúc Như và Hồ Vinh Hoa sang Việt Nam thi đấu một trận giao hữu. Khi ấy Hồ Vinh Hoa mới 21 tuổi nhưng đã đoạt ngôi vô địch Trung Quốc 6 năm liên tục, được tôn vinh là thần đồng số Trung Quốc. Dương Quan Lân tứ trước năm 1960 cũng đã nhiều lần ở ngôi quán quân, còn Thái Phúc Như là Á quân năm 1964 và Quý quân năm 1966.
Những tên tuổi như thế đã gây ấn tượng rất mạnh đối với làng cờ tướng miền Bắc thời bấy giờ. Việt Nam cử một số danh kỳ hàng đầu để nghênh tiếp. Cuộc cờ được tiến hành nối tiếp nhau trong vòng 10 ngày (từ 21 tháng tới 30 tháng năm 1966) ở ba thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và Hà Nam. Hà Nội có Nguyễn Tấn Thọ, Trương Trọng Bảo, Nguyễn Thi Hùng, Nguyễn Đắc Đinh, Trịnh Hoàng Sâm, Hải Phòng có Từ Quốc Phàn, Nguyễn Viết Bằng, Bùi Gia Vân, Vũ Văn Bình, Hoàng Đình Khang, Lý Kiệt và Nam Hà có Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Văn Khuê, Ngô Văn Tân, Trần Sang.
Bấy giờ là thời kỳ cực kỳ ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, máy bay Mỹ liên tục oanh kích, thả bom các tỉnh miền Bắc. Ngay ở Hà Nội con đường nào cũng có hầm tránh bom, cột báo động máy bay rúc liên tục. Trên bầu trời phía Bắc Hà Nội máy bay Việt Nam xáp chiến với máy bay Mỹ và thỉnh thoảng là những quả tên lửa đất đối không bay vút lên, nổ tung trên không trung. Chính vì vậy cuộc đấu giao hữu này mang nhiều ý nghĩa khác lớn hơn cả ý nghĩa thế thao. Đội cờ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn: mọi thứ đều thiếu thốn, không có thì giờ tập luyện, tinh thần căng thẳng,… thế nhưng các trận đấu đều được tiến hành suôn sẻ. Đội cờ Trung Quốc về mọi phương diện đều hơn: họ đến từ một đất nước hòa bình, rất khoẻ mạnh sung sức, năm nào cũng được thi đấu hàng chục giải lớn vì vậy chiến thắng của họ là điều dễ hiểu. Tuy nhiên có những ván cờ được chơi rất ngang ngửa như ván Trương Trọng Bảo hòa Hồ Vinh Hoa, Nguyễn Tấn Thọ hòa Thái Phúc Như, Nguyên Tấn Thọ hòa Dương Quan Lân, Từ Quốc Phàn hoà Thái Phúc Như.
Sau trận đấu đó ở Việt Nam chiến tranh ngày càng ác liệt cho tới năm 1975, còn ở Trung Quốc xảy ra cuộc “Đại cách mạng văn hóa” đẫm máu trong hơn 10 năm, vì vậy hai nước không còn có dịp thi đấu với nhau nữa.
Bẵng đi 35 năm, cho mãi tới năm 2001 tại giải “Các danh thủ châu Á” tổ chức tại Vũng Tàu hai bên mới có dịp gặp lại nhau. Dương Quan Lân và Thái Phúc Như đã quá già, chỉ có Hồ Vinh Hoa là sang được Việt Nam lần thứ hai, nhưng cũng đã 56 tuổi và sang với tư cách phó chủ tịch Hiệp hội cờ tướng thế giới dự họp. Tại đây Hồ Vinh Hoa đã gặp lại đối thủ năm xưa Nguyễn Tấn Thọ (đã 74 tuổi), cả hai đều cảm động, tay bắt mặt mừng.
Một vài chuyến du đấu lẻ tẻ kể trên cho thấy trong suốt thời gian hơn nửa thế kỷ cờ tưởng Việt Nam hầu như không có quan hệ gì với cờ tướng quốc tế cũng như cờ tướng thế giới hầu như không biết tới cờ tướng Việt Nam.
Qua hai trận đấu kể trên và do sự biệt lập đó mà người ta thấy dường như cờ tướng Việt Nam còn ở trình độ thấp, nhất là qua trận giao hữu tại Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định năm 1966, các kỳ thủ Việt Nam thua các kỳ thủ Trung Quốc tới 29 ván, hòa được 4 ván, không thắng ván nào. Hiệp hội cờ Tướng châu Á được thành lập vào tháng 3 năm 1979 nhưng mãi tới tháng 4 năm 1993, tức 14 năm sau, lần đầu tiên một đội cờ tướng của nước Việt Nam thống nhất mới xuất hiện trên kỳ đài quốc tế. Đó chính là giải Vô địch cờ Tướng thế giới lần thứ 3 tổ chức tại Bắc Kinh. Hơn 70 kỳ thủ của các quốc gia khác tay bắt mặt mừng một đội thành viên mới, tuy nhiên ai cũng nghĩ rằng với những “tân binh” lần đầu tới giải thì chắc hẳn không có mấy hứa hẹn, âu đó cũng là lẽ thường tình.
Trong giải vô địch thế giới này, ngoài giải chính thức còn có một giải khác, nhỏ hơn, được gọi là giải. “Dành riêng Cho những kỳ thủ không phải gốc Trung Hoa” (giải “Phi Hoa duệ”), dĩ nhiên là các kỳ thủ Việt Nam cũng được tham gia cả giải này.
Cuộc thi đấu diễn ra khá sôi nổi, các kỳ thủ ta cũng chỉ biết chơi hết mình chứ chẳng hề mơ tưởng đến một thứ hạng nào. Tuy nhiên ngay trong khi đang diễn ra các ván đấu, đội Việt Nam đã làm kỳ thủ các đội bạn hết sức khâm phục. Trước tiên là Mai Thanh Minh đã thủ hòa được với hai nhà vô địch thế giới người Trung Quốc là Triệu Quốc Vinh và Từ Thiên Hồng, thắng một số kỳ thủ khác, cuối cùng được xếp hạng 10 trên tổng số 76 đấu thủ hàng đầu thế giới đồng thời đoạt luôn ngôi vô địch giải phi Hoa Duệ”, nghĩa là với những tay cờ không phải gốc Hoa thì Việt Nam đứng đầu Hơn thế nữa, nữ kỳ thủ Lê Thị Hương của ta chơi rất hay, kết cục được xếp ở vị trí thứ tư nữ thế giới. Trần Văn Ninh (người Đà Nẵng) cũng có những ván đánh khá xuất sắc, gây ấn tượng tốt ở giải.
Không ai ngờ được rằng đội cờ Tướng Việt Nam lại có một tiềm lực dồi dào đến thế và lần đầu tiên họ thấy được một lối chơi đầy biến hoá, ngẫu hứng và sáng tạo, hoàn toàn ngược với lối chơi bài bản, đầy kỹ thuật và hết sức chặt chẽ của các kỳ thủ Trung Hoa (về sau này tại các giải thế giới người ta đã “khai trừ” Việt Nam ra khỏi các giải “Phi Hoa duệ” vì cho rằng các kỳ thủ Việt Nam sẽ lấy hết giải thưởng, không động viên được phong trào thế giới chơi cờ tướng). Báo chí thể thao Trung Quốc lúc đó đã viết “Việt Nam bất ngờ xuất hiện trên kỳ đài này như một đàn ngựa ô dũng mãnh. Rồi đây họ sẽ là đối thủ đáng gờm nhất của cờ tướng Trung Quốc”? Ngày về đội cờ tướng Việt Nam được đón tiếp trọng thể, được ủy ban TDTT khen thưởng và nhất là đã ghi được một dấu son không bao giờ phai mờ trong bước ngoặt cơ bản nhất của nền cờ tướng nước nhà. Nó không chỉ chiếm được cảm tình và còn tỏ rõ sức mãnh thực sự của cờ tướng nước nhà.
Chính từ giải quốc tế này đã chấm dứt một thời kỳ đơn độc lẻ loi để hoà nhập với nền thể thao trí tuệ đang thời kỳ sôi động của thế giới.
Cuộc hành trình của cờ tướng Việt Nam trên đấu trường quốc tế là một cuộc hành trình đầy vẻ vang. Cái tên Mai Thanh Minh trở nên quá quen thuộc với các danh kỳ hàng đầu thế giới bởi một mặt anh 5 lần liên tiếp đoạt ngôi quán quân cờ tướng Việt Nam, mặt khác hầu như năm nào anh cũng lên đường tham gia các giải đấu quốc tế, giáp mặt với các tên tuổi cự phách như Lữ Khâm, Hứa Ngân Xuyên, Đào Hán Minh, Lưu Điện Trung, Diêm Văn Thanh, Trang Ngọc Đình, Lý Lai Quần… có nhiều ván “ăn qua ăn lại”, thế rồi tới cúp Phật Thừa, mấy lần anh cũng được ~ mời đích danh. Lê Thị Hương còn oanh liệt hơn: ngay sau giải ở Bắc Kinh chị đến giải các danh thủ châu Á và đoạt luôn giải ba, giành được danh hiệu nữ Quốc tế đại sư.
Sang năm 1995 tới giải Vô địch cờ tướng châu Á, chị đánh cực kỳ xuất sắc, vượt qua hầu hết các danh thủ nữ thế giới, chỉ chịu xếp sau có một người là nữ kỳ thủ Hồ Minh (Trung Quốc), rốt cuộc Hồ Minh ở ngôi Quán quân còn Lê Thị Hương ở ngôi Á quân và ngay tại giải này Lê Thị Hương đã được phong danh hiệu cao nhất của làng cờ tướng thế giới: Đặc cấp quốc tế đại sư. Mãi tới 8 năm sau đó mới có người Việt Nam thứ hai được phong danh hiệu này. Cho đến tận bây gờ, dù đã lấy chồng, có con và tuổi cũng là cao nhất trong làng cờ nữ Việt Nam nhưng Lê Thị Hương vẫn còn thi đấu ở đỉnh cao. Trong giải Vô địch quốc gia 2003, chính chị chứ không phải ai khác đã kịp đem về cho đội tuyển cờ Thành phố HCM chiếc huy chương danh dự duy nhất.
Tuy bước lên kỳ đài quốc tế muộn màng, chỉ mới tham gia hơn 10 năm, nhưng chính Việt Nam là quốc gia được các nước đánh giá cao, thế hiện qua những con số cụ thể và những danh hiệu được phong tặng: số đặc cấp quốc tế đại sư là 3 người (Lê Thị Hương, Trềnh A Sáng, Trương Á Minh), số quốc tế đại sư là 8 người (Mai Thanh Minh, Diệp Khai Nguyên, Mong Nhi, Trần Văn Ninh, Trần Đình Thủy, Võ Văn Hoàng Tùng, Lê Thiên Vị, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Châu Thị Ngọc Giao) và chắc chắn sẽ còn nhiều nữa.
Năm 2002 một đoàn cờ tướng Việt Nam gồm 5 người (Trịnh A Sáng, Trương Á Minh, Diệp Khai Nguyên, Mai Thanh Minh và Lê Thiên Vị) đã được phía Trung Quốc mời sang thi đấu tại 5 tỉnh thành của Trung Quốc. Tháng 10 năm 2003 một đoàn cờ Tướng Trung Quốc gồm các danh thủ Từ Thiện Hồng, Lý Lai Quần, Lâm Hoành Mẫn, Trang Ngọc Đình đã sang thi đấu tại các thành phố lớn của Việt Nam:Vũng Tàu, Sài Gòn và Hà Nội. Năm 2004 Việt Nam lại có đoàn cờ sang thi đấu tại các Nạn Vân Nam, Quy Châu, Thành Đô, Cam ‘rúc và Bắc Kinh. Hai nước tiếp tục những cuộc giao lưu như thế đã trở thành thường xuyên. Nhiều người nói rằng giá như cờ tướng Việt Nam gia nhập Hiệp hội cờ Tướng châu Á từ năm 1980 thì bây giờ nền cờ tướng của chúng ta đã lớn mạnh hơn biết bao, số kỳ thủ có đẳng cấp của chúng ta còn có thể nhiều gấp đôi và thứ bậc của chúng ta trên đấu trường quốc tế còn được cải thiện hơn nhiều. Ý kiến đó xem ra cũng có lý, bởi vì suốt từ năm 1980 cho tới 1993 chúng ta rất thiếu thông tin, sách báo về cờ tướng hầu như hoàn toàn không có và tới mãi năm 1992 ta mới có giải Vô địch cờ tướng quốc gia đầu tiên. Điều đó cho thấy sự phấn đấu của các kỳ thủ Việt Nam thật là phi thường, bền bỉ, dẻo dai, nhưng điều ấn tượng nhất là đã tự tạo nên một lối chơi rất đặc biệt theo phong cách và trường phái Việt Nam mà chính các nước khác đang phải cố công sưu tầm nghiên cứu xem thực chất “nó là cái gì” đế học hỏi và tìm cách vượt qua (các website cờ tướng quốc tế hiện nay có rất nhiều ván cờ của các kỳ thủ Việt Nam, các bạn hãy vào nchess.com chẳng hạn). Hiện tại, chính các kỳ thủ Trung Quốc cũng thừa nhận “Nói cho cùng thì chính các bạn mới là đối thủ xứng đáng nhất của chúng tôi!” Đây không phải là lời nói xã giao, bởi trong khu vực Đông Nam Á chưa nước nào đứng trên được Việt Nam.
Đến đây xin được tạm dừng. Loạt bài này có thể chưa được hoàn hảo và còn có những điều bạn đọc muốn biết nhưng chưa được đề cập tới, nhưng dù sao cũng bước đầu cung cấp được cho các bạn yêu thích thể thao trí tuệ một cái nhìn tổng quát về cờ Tướng, một thú chơi cực kỳ hấp dẫn đối với người phương Đông, đặc biệt là với hàng triệu người Việt Nam, xin hẹn gặp lại trong những chuyên mục, những câu chuyện, những vấn đề hay những nhân vật nổi bật của làng cờ Tướng… trong những lần sau!
Cuộc cờ
- Trương Thái Du
- 02/03/2006
- 0
[img]xq407-0.jpg;right;Thác Đambri – Đà Lạt[/img]Nói nào ngay, ông Tư trong mắt đa phần thiên hạ là kẻ bất bại. Nghe bảo đận trung niên, ông Tư gặp một tay iêng hùng lục lâm non choẹt nhưng có chiêu tốc chiến tốc thắng, đè xe, ém mã rất kinh hồn. Biết mình vào thế kẹt và sẽ mất tước bách thắng, lựa lúc đi giải ông Tư tạt vô chái bếp cơi lửa ủ mạt cưa vào vách gỗ. Khách chưa kịp giở phục chiêu giăng sẵn thì đã nghe làng xóm í ới cháy nhà. Xúm xít kẻ tát người bê tình giềng nghĩa láng, ông Tư không mất chốn dung thân. Hôm sau mặc vợ con lui cui dọn dẹp, phên nẹp nửa căn nhà bị cháy xém; ông Tư thản nhiên trốn ngoài bờ trúc góc vườn kẻ kẻ, vạch vạch các ô vuông giải bàn cờ xuýt thua.
Năm hai mươi tuổi, trên đường câu cá kiếm cơm, ông Tư nhặt được quyển “Kỳ thư” bên suối Khu Bê. Duyên trời cộng với đĩnh ngộ, ông mau chóng nổi lên như một hảo thủ vùng Lạt. Thật sự các nước cờ của ông Tư cũng thường thôi, nghiệt là chúng lại kết hợp với nhau trong trật tự hết sức cao cường, thông cổ, tường kim, mạch lạc mà lại có vẻ bí hiểm. Có lần ông dụ địch thủ chén ngấu cả hai con xe, trong khi chàng chốt quèn lặng lẽ áp thành cản tượng cho pháo giác kết liễu tướng giặc. Ông thành danh cũng có chữ liều và không màng trả giá.
Cao nhân cũng lắm kiểu ngạnh. Trò ông chơi ai cũng gọi là cờ tướng hay văn vẻ nho nhe “tượng kỳ”, còn ông thì cụt lủn: “cờ voi”. Bọn sính chữ một phép thường xướng đường biên giữa hai phía là “Hán giới – Sở hà”, riêng ông xem đó như ranh mép ngày – đêm. Ta là ngày, nó là đêm. Ta sáng nó tối. Ta dương nó âm. Ta hiền nó dữ. Ta khôn nó ngu. Ta chính nghĩa nó ngụy thù…
Ông Tư chơi cờ cả đời và chiến thắng cả đời, nên chẳng có lý do gì trận đấu từ giã xới cờ ông không thắng nốt. Lúc ấy ông cũng đã gần đất xa trời. Ông đem bàn cờ hằn dấu những cái nện ăn quân chan chát mấy mươi năm đặt trên tủ thờ, như báo cáo chiến công với tiên tổ.
Tình thực, đó cũng là ý nghĩa duy nhất của đời ông, bởi bao năm ông chỉ biết ăn uống, chơi cờ và… “yêu vợ”. “Vợ làm vợ ăn, vợ làm chồng ăn, con bú sữa mẹ” là phương châm sống kiên định của ông Tư. Bầy con nheo nhóc lớn lên rồi trưởng thành ở tứ xứ vẫn luôn răm rắp, khúm núm trước mặt ơn sinh thành.
Nhưng ai biết dâu bể khôn lường, ông Tư có một lũ cháu A Khùng hay cãi chày cãi cối. Giỗ tết cả nhà xum vầy, nếu ông mở lời kể lể ngợi ca chiến công một đời đánh cờ, y rằng bọn A Khùng ấy xổ toẹt hết. Mà tuồng như chúng lại có lý mới chết chứ!
– Ông dịch chữ Nho sai rồi ông ơi – Thằng cháu nội đích tôn là hay gây hấn với ông nhất, vì cậy sở học hồ hải vinh qui bái tổ – Chữ Tượng trong Tượng kỳ đâu phải là con voi! Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng của trận đánh.
– Khéo vẽ, sao không nói nốt chữ nhân chớ phải là người đi.
– So với cờ quốc tế, cờ của ông rất thiếu công bằng. Con chốt mãi mãi là con chốt.
– Chứng chóa mắt ngoài bờ tre đây. Vậy cái thằng Quốc tế liên hiệp nó công bằng giữa nhược tiểu và cường thịnh, giữa nhiều tiền và ít tiền, giữa nước lớn và nước bé như thế nào?
– Ông à, ông chơi cờ cả đời không chán ư? Đến lượt thằng cháu mua bán ngoài chợ thắc mắc.
– Đời chẳng qua cũng là một cuộc chơi.
– Nhưng cháu thấy vinh quang tinh thần của ông nó yếm thế như thế nào ấy. Buổi xôi thịt này có no được đâu.
– Ta già rồi, lũ cháu không hiểu cũng là dễ hiểu!
Từ đó ông Tư sinh ra lẩm cẩm, suốt ngày thì thầm: “không hiểu cũng là dễ hiểu”. Ông đem bàn cờ cũ để hẳn xuống trường kỷ, rồi lấy giấy nhám xóa dần những đường chéo làm sông ở giữa.
Cái tin ông Tư đột nhiên chơi cờ trở lại ngỡ sẽ làm con cháu phiền lòng. Nhưng không, ông chơi rất lạ và chỉ chơi với chính ông: bộ cờ mới ông giữ mỗi bốn con Tượng. Ông quân xanh, đối thủ vô hình quân đỏ (không như ngày xưa lúc nào ông cũng đỏ để nhường xanh đi trước, hậu thắng tiên mới oai!).
Ngày ngày ngồi lì bên bàn cờ trống hoác, tay phải ông chống Tượng thì tay trái với qua phía đối diện đẩy Tượng lên biên. Hai cặp Tượng căng lắm là gườm nhau qua dòng sông. Nước chéo vuông của Tượng hình như thay thế tạm các kẻ chéo chữ nhật ông đã bôi xóa. Lòng ông sôi sục năm tháng cũ, các nước cờ cũ, các con cờ cũ vô hình.
E hèm, Tượng không phải là voi? Ông nhớ lại lời thằng cháu. Xưa ông ít dùng Tượng. Cờ ông là cờ toàn công, Pháo đầu thượng sách nên ông xem thường quân Tượng. Nếu là voi sao Tượng không vượt sông lâm trận? Người Trung Hoa sáng tạo ra Tượng Kỳ khi chiến xa (được hình tượng hóa vào con xe) còn chiếm ưu thế tuyệt đối trên chiến trường. Kỵ binh (con Mã) bắt đầu được biết đến ở đời Triệu Linh Vương (nước Triệu), năm 307 trước Công nguyên, khi họ Triệu cải trang phục giống người Hồ để dễ dàng cưỡi ngựa. Thời chiến quốc ấy, làm gì có voi trên mặt trận nào. Qua Đông Hán người Tàu mới gặp voi ở Trung Bộ Việt Nam hôm nay nên bày ra huyện Tượng Lâm. Nếu Tượng Lâm là vùng rừng có voi thì Tượng Quận thời Tần chẳng lẽ lại mang nghĩa một quận tượng trưng trên bàn tiệc thực dân? Khéo bọn thực dân đại quốc chỉ xem khu vực có tổ quốc ông là một cuộc cờ tượng trưng không chừng!
Cũng là Tượng, nhưng sao rắc rối thế. Ông Tư quyết đánh cờ với bốn quân Tượng đến khi nào ông không còn mắc mớ trong lòng nữa mới thôi.
Chỉ tội bà Tư hồn hậu, nhân từ. Nhìn ông chơi cờ một mình mà ruột gan bà xát muối ớt. Xưa bà chẳng quản “Quanh năm buôn bán ở mom sông” để ông “vĩ mô” với thiên hạ, oai hùng riêng trấn muôn trượng một góc trời. Khốn khó hy sinh, cuối cùng đàn con của bà cũng se lông, khỏe cánh tung bay khắp nơi. Ông nghỉ chơi cờ dăm năm, bà hân hoan mấy mùa? Hủ hỉ vào ra, bà chẳng hiểu cờ nhưng ngồi nghe không sót các cuộc luận những ván cờ oanh liệt năm xưa của ông. Hai người, ông cứ nói, bà chỉ ừ. Ấm lòng đến lạ.
Ấy thế mà bây giờ, cứ hoảnh mắt là ông ngồi xuống trường kỷ đẩy tới đẩy lui bốn con Tượng. Bà Tư hốt hoảng: “Hay là có ma cờ? Một đời ông dày vò nó, nay ông đầu bạc răng long, nó quay lại hành ông, biến ông thành một quân cờ”.
***
Xế nay nhà ông Tư có khách xa. Bà Tư dọ hỏi sự tình, trong khi ông chẳng màng, đầu óc tập trung chuyển cờ, miệng nín khe.
– Thưa ông, con là kẻ bại trận cái hôm nhà ông bị cháy…
– Thật may phúc – Bà Tư đỡ lời, nhìn dáng người, xe cộ, bà đoán khách giàu phải biết.
– Con nghiệm ra trong đám cháy và cuộc cờ tiềm năng tố chất của đất đai, con người vùng mình, xứ mình. Khi tích cóp đủ vốn liếng, con về huyện bên mở lối làm ăn dành dụm. Công nhân của con, hơn nửa là người Lạt. Con cháu ông bà cũng tròn chục gắn bó với con đã khá lâu.
– Vậy ra anh là ân nhân nhà tôi.
– Bà nói quá. Không có ông chỉ bảo con đâu thể nên người.
Tình thế vừa đủ lọt lý, ông Tư mới ngước mắt lên gằn giọng:
– Anh lại muốn kiếm chác trong ngôi nhà cổ đã một lần cháy dở này?
– Con tính, khí không phải. Khách thập phương đến Lạt ai cũng háo hức về chuyện đời cờ của ông. Con sẽ sang sửa ngôi nhà, lập một mái đình lợp ngói âm dương nóc tròn ngoài sân, dựng tượng ông ngồi bên bàn cờ đá như trên tiên giới. Đây sẽ là điểm nhấn của toàn bộ khu du lịch mà con đã được cấp phép, bắt đầu thương lượng bồi hoàn, giải tỏa.
– Hai khọm già này sẽ bị tống cổ đi chứ?
– Ấy… ông bà là nhân chứng sống một thời, con đâu dám. Đất xung quanh vẫn của ông. Chẳng việc gì ông bà phải dọn đi đâu. Con sẽ gửi thêm lương thưởng hậu hĩ…
Ông Tư mệt rồi. Ông không buồn nghĩ nữa. Ông đứng dậy nhặt bốn con Tượng và nách cái bàn gỗ sắp mục ra sân. Vòm mai anh đào ưng ửng dưới nắng chiều xuân. Trời đất đẹp lạ lùng mà lòng ông cứ nhói lên nỗi buồn không thể đặt tên là chiến thắng.
Ông Tư ngồi xếp bằng, bệt xuống đất. Bàn cờ nằm hơi nghiêng xuống thung lũng, trên chiếc đôn đá cạnh gốc thông xù xì. Ông dựng bốn con Tượng thẳng lên như bánh xe rồi lơ đãng nới tay. Chiếc ô tô tàng hình vụt lao xuống vực. Ông Tư không cần quân cờ nữa. Đã đến lúc ông có thể chơi trên một bàn cờ chay, hay nói đúng hơn ông lẫn lộn chẳng biết mình là quân cờ hay quân cờ là mình.
Đêm tới. Đám lá thông lập cập trong gió, âm u hát như mong xua đi hơi lạnh cao nguyên bốc lên từ lòng đất. Khách đã ra về từ lâu. Chẳng thấy ông đâu, bà Tư nháo nhác đi tìm khắp nơi. Rồi bất lực, bà hoảng loạn nhắn gọi con cháu kíp tới giúp. Ánh đèn pin loang loáng khắp vườn, tiếng réo kêu nối nhau mất hút. Tinh mơ, hàng chục người suốt đêm quần thảo bở hơi tai hết ba quả đồi và năm cái hụt, đành ngược dốc về nhà.
Ban mai. Gió tung những cánh anh đào rụng đêm qua vào nắng, chấp chới như một đàn bướm hồng. Ông Tư đã hóa đá bên cội thông trăm tuổi. Đúng là tiên ông sống động, hơn cả óc tưởng tượng thương mại sặc mùi tiền của gã đại gia nọ. Bà Tư và đám con cháu sững sờ, không thể tin vào mắt mình.
Ông Tư về với tiên tổ, nhẹ nhàng thanh thoát làm sao. Mong lắm, gương ông sẽ sáng mãi cho cháu con, cho dòng tộc, cho xứ Lạt vạn xuân này. Những cuộc cờ, những quân tướng tượng trưng, đơn giản chỉ là một trò chơi cõi tạm. Được mất có lẽ nằm ở cách chơi, chứ phải đâu là kết cục thắng hay bại rỗng tuếch và gần như vô nghĩa!
[i]Thung lũng Đa Thiện,
Đà Lạt 1.2006[/i]