Trong một ván cờ, kiện tướng Blumenfeld đi đến một thế trận mà trong đó ông cần phải đi nước thứ 40 trước khi kiểm tra thời gian và đó cũng là nước chiếu hết đối phương. Tuy nhiên, ông vẫn ngồi trên bàn cờ mà đắm chìm trong những suy nghĩ, không đi nước cờ. Còn khoảng 10 phút là đến thời hạn kiểm tra thời gian. Đối thủ của ông có vẻ chịu thua rồi. Nhưng sau năm, bảy,… chín… phút trôi qua, đồng hồ vẫn chạy và Blumenfeld vẫn chưa đi nước quyết định cuối cùng đó. Lá cờ trên đồng hồ của ông đã bắt đầu treo, khiến đối thủ lóe lên một chút hi vọng mong manh: Blumenfeld rất có thể bị thua vì hết thời gian. Khi chỉ còn vài giây nữa thì lá cờ sẽ rơi xuống, Blumenfeld mới đưa tay ra và đi nước chiếu hết.
– Tại sao ông suy nghĩ lâu đến thế cơ chứ? Đối thủ của ông ngạc nhiên kêu lên – Ông không thấy nước chiếu hết này hay sao?
– Tất nhiên là thấy chứ – Blumenfeld trả lời. Chỉ có điều là tôi không thể hiểu tại sao anh chưa chịu đầu hàng?
Related Posts
Hiu Hiu Gió Bấc
- Nguyễn Ngọc Tư
- 21/10/2005
- 0
Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này, người ta nhắc tới anh Hết còn nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp. Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: “Lại coi thằng Hết kìa! Ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương”. Ai mê vợ bé, mê chơi đề, đá gà, họ lườm lườm: “Mê gì như thằng Hết mê cờ”. Nên nghe râm ran chị Hảo để lòng thương anh, má chị kêu trời: “Bộ hết người rồi sao, con. Cái thằng mê cờ tới mất vợ, không sợ?”. Không, chị Hảo nghiêm nghị, cờ tướng là loại cờ tao nhã chỉ dành cho quân tử, có gì mà sợ. Mê rượu, mê gái mới ghệ Chỉ sợ người ta không thương mình. Má chị định càm ràm nữa, thì chị đã quay lưng ra quán mất rồi.
Quán chị Hảo cũng nhỏ thôi, buôn hàng tạp hóa lặt vặt. Quán cất trước nhà, ngó ra mé lộ, có khi không cần ngồi giữ, bà con trong xóm ai muốn mua gì thì gọi vọng vô. Chỉ buổi chiều, chị mới ra ngồi ở đó. Buổi chiều, lúc mặt trời vừa khuất sau vườn chuối anh Hết hay ghé lại để mua 1.000đ mỡ nước, 500đ bột ngọt, 500đ tỏi, 500đ tiêu. Chị cố bán thật rề rà để nhìn anh lâu nữa, coi bữa nay chắc anh đi vác lúa đằng nhà máy chà gạo, trên tóc còn vương trấu. Nhìn vậy thôi chớ không nói gì hết. Con trâu không nói sao cái cọc nói được. Nhưng vẫn cứ đón chờ, có khi sớm, khi muộn hơn một chút nhưng chị biết thể nào thì anh cũng về qua, về để nấu cơm cho tía anh.
Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay: “Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi”. Chừng năm năm trước, ông còn vô bếp nấu cơm, mắt mũi tèm nhèm để lửa táp vô vách lá, nhà cháy rụi. Anh Hết cất lại nhà trên nền cũ đầy tro, nhìn xa nhà lớn hơn miếu ông Tà một chút. Ông già ngồi tiếc cái tivi đen trắng, mỗi lần mở phải đập thùm thùm nó mới lẹt xẹt lên hình. Ông già điếc đát vậy mà mê tivi, cháy rồi thì thôi vậy, chiều chiều chống gậy thả qua nhà hàng xóm coi nhờ.
Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về. Có bữa chờ tới mỏi mòn, để bụng đói ngồi ngủ gà gật. Người ở xóm biểu cứ ăn trước đi chớ chờ gì, anh cười, mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều. Nhưng có bữa, anh mới vừa giở cửa chui vô nhà, ông già đã ngồi nhai cơm cháy, bị nghẹn, mắt ầng ậng nước. Anh thương tía quá chừng vội vàng chạy đi vo gạo.
Anh Hết mồ côi má từ mới lọt lòng. Bà chết vì sinh khó. Ngoại anh đặt tên là Hết. Chắc tại lúc đó đau lòng quá kêu đại vậy, chớ không có nghĩa gì đâu. Anh Hết lớn lên, yêu hết thảy từng con người, từng tấc đất ở cái xóm Giồng Mới. Cái xóm nhỏ ngoại ô biết bao thương nhớ, những bờ rào giâm bụt xanh, những hàng cây đủng đỉnh xanh. Những người đàn ông chuyền tay nhau dỗ dành đứa trẻ thiếu hơi ấm mẹ. Những người đàn bà cho anh bú thép, để con khóc ngoe ngóe trên giường.
Tía anh không đi bước nữa, ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên, “Chớ ầu ơ… Cây khô đâu dễ mọc chồị..”. Chừng này tuổi rồi, mỗi khi anh đặt lưng xuống bộ vạc, lại nhớ ngơ nhớ ngẩn lời hát của tía anh ngày xưa. Buồn lắm, nghe đứt ruột lắm. Càng nhớ anh càng thương ông. Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình. Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ. Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già. Đi cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm.
Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ. Tía đầu bạc rượt thằng con đầu xanh chạy cà tưng đuổi nhau lòng vòng quanh mấy cây me già ngoài mé lộ. Đám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội. Hỏi anh Hết sao không chịu chạy nhanh để bị dính đòn, anh bảo, chạy thì được, nhưng càng nhanh thì tía anh càng mệt, chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì.
Ai nghe nói cũng thương. Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình. Có cái tật mê cờ, mê cũng hết mình.
Người ta nhắc hoài chuyện anh hễ cắm đầu vô bàn cờ rồi quên đói, quên ướt, súng nổ cái đùng cũng coi như không nghe thấy, như là đã thoát tục rồi, bình an, xa rời mọi điên đảo. Thấy con bồ mình đang thương dắt tay chồng tương lai đi sắm sửa đồ cưới mà cứ lo mang xe chiếu tướng, thì đúng là không còn hỉ nộ ái ố gì nữa rồi. Cũng có nhiều người thích đánh cờ nhưng say đến mức coi con cờ như con người thì không ai làm được, ai đời, đi chốt qua sông mà anh khóc, nước mắt chảy ròng. Chị Hảo nhớ, bữa đó hình như đám gả chị Hoài.
Người ta nói chị Hoài đi lấy chồng cũng tại anh Hết mê cờ.
Họ thương nhau từ lúc hai người mới 22, 24 tuổi. Thời đó, tuổi đó, người ta thương không nhìn gia cảnh, địa vị. Tuổi đó, người ta yêu không ngại ngần, không e dè, rà cản, họ để lòng tự nhiên như dòng chảy của sông. Bên nhà chị Hoài biết con gái hay hẹn hò với anh Hết ngoài cống đá thì không vui. Má chị Hoài hỏi sao đâm đầu vô thương chỗ đó, cô hỏi lại: “Anh Hết hổng được chỗ nào hả má?”. “Ừ, tao chê chỗ nào bây giờ, thằng Hết được, hiền, giỏi giang, chịu khó lại hiếu thảo. Nhưng nó nghèo quá, thân sơ thất sở không một cục đất chọi chim, biết có lo cho bây sung sướng được không. Bây quen được tưng tiu mà”. Chị Hoài không cãi ra mặt nhưng bụng nghĩ, còn sức lực còn đôi tay, còn cơ may thay đổi cuộc đời.
Lúc đó, anh Hết vẫn chưa mê cờ. Nhưng anh biết chơi nhờ đi làm bốc vác ngoài nhà máy, mấy ông già chèo đò truyền lại, nức tiếng với mấy chiêu pháo đầu, bình phong mã, công thủ song toàn. Cho tới lúc má chị Hoài lại nhà, không biết nói gì nhưng có khóc. Những giọt nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt già nua của người đàn bà đã từng cho anh bú thép. Sáng hôm sau anh đã thay đổi, nhanh như người ta lật một bàn tay. Anh đam mê cờ tướng. Anh hay na bộ cờ ra ngồi mấy gốc cây bên vệ đường để tìm đối thủ, để ai cũng thấy đúng là thằng Hết bê tha thiệt rồi. Nó không chịu làm ăn gì mà tối ngày nướng thời gian trên mấy con cờ xanh đỏ.
Hồi đó, tía rầy anh dữ lắm. Anh thưa với con, nợ sữa là món nợ lớn nhất đời người. Con đã nợ má em Hoài, tía à. Không biết ông già rồi có hiểu gì tình cảm của tụi trẻ không, ông ừ hử vậy. Nhưng thấy anh ngồi la cà đánh cờ ở đâu, giữa đường cũng vậy, ông vác cây đánh ngay đó. Vừa đánh vừa kêu nhịp nhàng “Xe nè! Chốt! Pháo nè! Bụp! Chiếu hả, thằng ma cà bông, tao chiếu cho mấy đường”. Ông ca cẩm thằng con ông bây giờ tệ bạc lắm chiều hôm qua nó để ông ăn cơm nguội chung với mấy con gián. Ông nói mà giọng ông hơi nghèn nghẹn dường như trong lòng đau nhói lắm. Nuôi nó từ nhỏ tới lớn, bây giờ ông mới đánh nó đây, đánh để giúp nó trả ơn đời. Tối về ông bắt nó nằm cho ông xoa dầu, hỏi bày đặt yêu đương chi mà khổ vậy con ơi. Xóm này người ta không biết nên nói mày hết thuốc chữa rồi. Con tao mà vậy à.
Chị Hoài cũng can ngăn, thuyết phục mãi, tốn không biết bao nhiêu là nước mắt, cuối cùng đành phải bỏ đi lấy chồng. Hôm đám, anh Hết còn tỉnh bơ ngồi ngoài bờ, dưới gốc còng, hào hứng bày cờ ra chơi với mấy đứa nhỏ. Đám bạn gái ai cũng xì xầm, chắc thằng Hết không thương thiệt con Hoài nên mới dửng dưng vậy. Chị Hoài nghe mà khóc không thôi, bảo với chị Hảo, có cái tiếng bạc tình ảnh cũng gánh cho em rồi. Tranh thủ lúc chưa làm lễ, chị Hoài rủ chị Hảo mang cả áo xống chạy ra, nhìn anh như nhìn lần chót, như lấy chồng là chết vậy. Anh Hết dứt khoát không ngước lên. Thôi, không nắm níu gì được nữa rồi, nghe người ta kiếm cô dâu, hai chị quay vào. Đi một đoạn, nghe đám con nít trộ lên, anh Hết sao mà khóc vậy. Đâu có. Có mà, nước mắt anh rớt lên con tướng này nè, đó, nó ướt nhẹp đó thấy chưa. Hết cười lớn, nói lớn: “ừ, tại tao thương con chốt. Qua sông là không mong về”…
Chị Hoài vừa đi vừa khóc. Lời của anh Hết làm chị Hảo thương điếng trong lòng. Con người này, nghĩa biết trọng mà tình cũng thâm.
Anh Hết lại sống như những ngày trước kia lầm lũi đi đào thuê, vác mướn, kiếm tiền nuôi tía. Đôi ba hôm, đi làm về, đã thấy trên cái bếp còn ấm tro một nồi cơm nấu sẵn với một mẻ cá kho khô. Có bữa, mẻ kho đổi lại là nồi canh rau đắng. Rồi anh Hết gặp chị Hoài đi chợ về, thấy bóng anh từ đằng xa, chị lấy nón che một bên má bầm tím. Anh Hết chạy theo, giằng lấy nón mà xót xa:
– Sao nông nỗi vầy, Hoài?
Chị Hoài nói chị té đập mặt vô cạnh cửa nhưng anh Hết không tin: “Hoài ơi, em hạnh phúc, tôi mừng. Hoài cứ như vầy, chắc tôi bỏ xứ”. Chị Hoài khóc, người ta chớ đâu phải con cờ mà hễ qua sông là đứt lìa phần đời trước.
Rồi chị Hoài cũng tập thương chồng, thương không giấu giếm, ào ào như người ta bán thuốc sơn đông. Chị thôi không đứng tần ngần chỗ nhà chú Hết mỗi khi đi chợ về, thậm chí chị không thèm nhìn về phía ấy nữạ Chị Hoài nói với bạn: “Bữa nay đi chợ mua mấy khúc vải về may đồ cho anh Thứ. Ảnh nói mặc đồ chợ cũng được mà tui đâu có chịu, người vợ biết đường kim mũi chỉ lúc nào cũng làm ấm lòng ông chồng, phải hôn nè…”. Giữa đường nói chuyện chồng con mà giọng chị Hoài lanh lảnh, chừng như nhắn với Hết, thôi đừng đi đâu hết, tôi quên anh rồi, quên thiệt, quên luôn, bây giờ tui thương chồng tôi lắm đây. Cho bỏ tội mê cờ, nghen.
Nhưng từ ngày chị Hoài lấy chồng, anh Hết đã không đụng tay vào quân cờ nào nữa. Anh hay ngồi nhìn bàn cờ mặt buồn rười rượi, mấy đứa nhỏ không biết, cứ rủ hoài, ừ thì chơi. Anh biểu tụi nó bày cờ ra, rồi tự đi quân, anh không nhìn, chổng mông vo gạo, một đứa nói vô pháo đầu nghen, anh kêu mã tấn. Tấn chỗ nào? Tấn giữ con chốt đang bị con pháo rình đó, biết còn hỏi. Tụi nhỏ kêu, đây là kiểu “hiệp sĩ mù nghe gió kiếm”, đánh cờ mà làm công chuyện không ngưng tay, nói khơi khơi, cũng thắng.
Lụi hụi rồi bốn mùa gió bấc về kể từ mùa gió chị Hoài lấy chồng. Ba anh Hết thường chống đũa trên mâm cơm than ăn không vô. Anh hỏi ông thèm gì. Ông bảo chắc tao gần chết rồi, tao thèm một thằng cháu nội. Hết lượng sượng mãi mới cười: “Trời, thèm gì ngặt vậy, không biết con biết kiếm đâu cho tía bây giờ”. Tía anh Hết biểu lại đằng quán con Hảo lỡ thời mà kiếm. Mày giả đò hoài, con nhỏ thương mày, ai cũng biết, chỉ mày là không. Anh Hết cãi, làm gì có, tía. Ông già đứng dậy, vậy phải thử. Nói rồi vung gậy đánh. Như mấy lần trước, anh Hết lại chạy lừng khừng ra sân. Rượt chán, ông già dứ dứ cây gậy vô mặt anh rồi tủm tỉm cười quay đi. Ông già còn kịp thấy chị Hảo chạy lại vẹt đám con nít ra, đưa anh chai dầu Nhị Thiên Đường, miệng xuýt xoa hỏi anh đau chỗ nào, giọng như người thân thiết trong nhà: “Làm gì mà để tía giận dữ vậy, lén chơi cờ phải hôn?”. Anh Hết không trả lời, cầm chai dầu còn ướt mồ hôi tay của chị. Đây đã là chai thứ chín chị cho anh, anh khẽ bảo:
– Hảo, tôi… cảm ơn.
Anh ngần ngừ sau chữ “tôi” hơi lâu, làm chị Hảo chờ muốn nín thở. Ơn nghĩa gì một chai dầu gió, nó chỉ làm anh hết đau ngoài da thịt, mà trong lòng thì còn mãi. Chi vậy Hết ơi!
Đâu có biết, chỉ tại chưa quên được. Anh chưa dám nhìn thẳng vô mắt Hoài để cười, chưa dám nựng nịu con của Hoài mỗi khi chị bồng nó đi tiêm ngừa. Chưa thanh thản để chào nhau như một người bạn gặp một người bạn. Hảo có hiểu không?
Hiểu, nên tôi chờ đây nè.
Thêm một mùa gió bấc nữa, chị Hảo vẫn chưa lấy chồng. Ai lại cũng hỏi, chị chờ ai vậy cà. Chị bảo chờ người ta xức dầu Nhị Thiên Đường của chị mà hết đau, chờ người ta đánh cờ mà trong tâm “Viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn”, chờ người ta thôi buồn khi đưa chốt qua sông.
Nhưng mà chờ tới chừng nào lận?
Ai mà biết.
Mùa nay gió bấc hiu hiu lại về.
Chơi cờ vua và cờ vây không cần động não?
- B.H. (theo Nature)
- 18/08/2005
- 0
[img]xq2-0.jpg;left;Cờ vua vốn được xem là môn thể thao trí tuệ nhất[/img]”Đây quả là một lời khẳng định có tính khiêu khích”, Sheng He, Đại học Minnesota ở Minneapolis (Mỹ), một đồng tác giả của nghiên cứu, thừa nhận. Theo Sheng He, những người chơi cờ vua và cờ vây đã không sử dụng đến vùng não bộ vẫn được xem là nơi sản sinh trí thông minh thông thường.
Kết luận này trái ngược hẳn so với quan niệm lâu nay. Theo đó, cờ vua được xem là một trong những trò chơi trí tuệ vất vả nhất, và môn cờ vây của Trung Quốc cũng đòi hỏi não bộ nhọc sức không kém. (Trong môn cờ vây, người chơi sử dụng các hòn đá của mình để lập hàng rào, chiếm cứ được càng nhiều lãnh thổ càng tốt trên bàn cờ có 19 hàng dọc và 19 hàng ngang).
Thay vì thế, Sheng He lập luận rằng chiến thắng của các kỳ thủ trong rất nhiều nước đi phần lớn là do kinh nghiệm và sự thành thạo. “Hầu hết các tay cờ cao thủ mà chúng ta xem là thông minh đều chỉ dựa trên kinh nghiệm”, chuyên gia tâm lý học John Gabrieli của Đại học Stanford ở California, nhận xét.
Trong nghiên cứu này, Sheng He và cộng sự cũng kiểm chứng một giả thuyết cho rằng, cách thức vận động của não bộ trong môn cờ vua khác với cờ vây. Ở môn cờ vua, người chơi chỉ được phép lựa chọn nước đi từ một số giới hạn các khả năng di chuyển có thể. Chính vì thế, các nhà lập trình có thể tạo ra những máy tính có khả năng chiến đấu ngang ngửa với người: Kiện tướng cờ vua Vladimir Kramnik đã phải thủ hòa với siêu máy tính Deep Fritz hồi tháng 10 vừa qua.
[img]xq2-1.jpg;center;Bàn cờ vây[/img]Nhưng trong môn cờ vây, người chơi được tự do di chuyển tới bất kỳ giao điểm nào giữa các hàng trên bàn cờ. Và người ta vẫn cho rằng trò chơi này đòi hỏi sự khôn khéo, hay chất “người”, nhiều hơn. Đôi khi, một nước đi chỉ nhằm gây áp lực lên đối phương.
Tuy nhiên, khi chụp ảnh não bộ, các nhà nghiên cứu không nhận thấy có sự khác biệt lớn. Chỉ có điều, nếu như kỳ thủ cờ vây thiên về sử dụng não phải (vùng não có vai trò định hướng và xác nhận vị trí), thì người chơi cờ vua vận dụng chủ yếu não trái (vùng não xử lý tình huống).
Đào Cao Khoa – Đột phát đỉnh cao 1999
- Đặng Kỳ Ái
- 18/05/2006
- 0
[img]xq529-0.jpg;right;Quốc tế đại sư Đào Cao Khoa (X) thi đấu tại giải cờ tướng châu Á năm 2004[/img]Đào Cao Khoa là em út của một gia đình có năm anh em. Ông Đào Kỳ, bố của Khoa là người thầy dạy cờ đầu tiên của hai anh em Đào Cao Khôi và Đào Cao Khoa. Khoa hiếu động, nghịch ngợm nên ông Kỳ dạy con chơi cờ để Khoa bớt nghịch. Vào những năm 80 Đào Cao Khôi bắt đầu tiếp xúc với các danh thủ hàng đầu Hà Nội. Mỗi khi bạn anh Khôi đến nhà chơi cờ, Khoa lại tranh lấy phần bày quân. Chú ngồi chầu rìa xem các anh chơi không biết chán. Những lúc anh Khôi ở nhà, Khoa lại nằng nặc đòi anh chơi cờ với minh. Ban đầu Khôi chấp Khoa một bên (Xe, Pháo, Mã), song khoảng cách cứ rút ngắn dần. Thấy Khoa có tư duy cờ tốt, Khôi đưa sách cho em đọc. Danh thủ Nguyễn Tiến kể lại: thoạt đầu anh chấp Khoa một Mã. Sau hơn một năm Khoa đã chấp lại anh một tiên (cho đi trước một nước). Trong các VĐV cờ tướng tại Hà Nội, Khoa là một trong những kỳ thủ tiến bộ nhanh nhất.
Năm 1995 lần đầu tiên Khoa tham gia giải Cờ tướng toàn quốc. Anh đem đến cho giải những ván đấu xuất sắc và được báo chí TpHCM biểu dương. Tuy nhiên anh chưa đạt đến độ chín cần thiết. Năm 1996 thành tích của anh rất kém. Điều đó cũng còn do anh phải lo học tập. Sau khi học xong Cao đẳng, Khoa mới có thể tập trung ý chí cho Cờ tướng. Anh bắt đầu thi đấu cho đội tuyển Bộ CA và ngày càng thu được thành tích cao hơn.
Từ năm 1992, nước ta tổ chức thi đấu giải Cờ tướng toàn quốc hàng năm. Trong bẩy năm liền từ 1992-1998 các danh thủ tpHCM luôn luôn dẫn đầu giải. Hầu như không có ai giành được vị trí hàng đầu với họ. Việc vươn lên tranh chấp với các danh thủ TpHCM là mục tiêu lớn của nhiều đội tham dự giải toàn quốc. HLV Phạm Trường Lâm của đội tuyển Bộ CA cũng ấp ủ mong muốn ấy. Anh tìm thấy ở Đào Cao Khoa những “tố chất” cần thiết để vươn lên đỉnh cao. Suốt mùa giải 1997-1998 anh rèn luyện và dẫn dắt Đào Cao Khoa chiếm lĩnh vị trí cao trong làng cờ. Cuối năm 1998 Việt Nam đăng cai giải Vô địch Cờ tướng đồng đội Đông Nam Á. HLV Phạm Trường Lâm được giao trách nhiệm dẫn dắt đội tuyển Việt Nam II. Đội tuyển Việt Nam I do HLV Lê Thiên Vị lãnh đạo có hai kiện tướng quốc tế đại sư Trịnh A Sáng, Trương Á Minh. Đội Việt Nam II có kiện tướng quốc tế đại sư Trần Văn Ninh và kiện tướng trẻ Đào Cao Khoa. Theo đánh giá chung Đào Cao Khoa là VĐV yếu nhất. Song HLV Phạm Trường Lâm có cách nhìn ngược lại. Dựa vào phong độ rất ổn định của Đào Cao Khoa trong hai mùa giải gần đây trong khi các kiện tướng của TpHCM thi đấu thất thường, anh tin rằng đội Việt Nam II nhiều khả năng vô địch. Song dù rất tin tưởng anh vẫn tìm cách thử thách “chú em út” của đội tuyển. Một hôm anh đề nghị Khoa đến CLB “đánh độ”. Khoa gặp một kỳ thủ lớn tuổi. Bình thường kỳ thủ này bị Khoa chấp Mã, song hôm đó anh đề nghị chơi bằng phân. Tất nhiên Khoa thắng. Hôm sau kỳ thủ lớn tuổi lại đề nghị chơi tiếp. Anh nói: “Hôm qua anh về xem lại sách rồi, nếu hôm nay em chơi như cuộc hôm qua thì chắc chắn em thua”. Trận đó Khoa thay đổi phương án chơi và HLV Phạm Trường Lâm rất hài lòng. Khoa không hề chủ quan cho dù biết đối phương còn dưới mình. HLV Phạm Trường Lâm truyền niềm tin của mình cho Khoa và anh không phụ niềm tin ấy. Trong giải Đông Nam Á, Khoa thi đấu tốt, đạt 6.5 điểm / 7 ván đấu, đạt thứ hạng cá nhân cao nhất, góp phần quan trọng giành Cúp vô địch về cho đội Việt Nam II. Cần chú ý rằng giải này có 9 quốc tế đại sư tham dự thì mới thấy thành tích của Khoa thật lớn.
[img]xq529-1.jpg;right;Đào Cao Khoa (phải) trong trận chung kết với Nguyễn Vũ Quân năm 2003[/img]Sau giải Đông Nam Á, HLV Phạm Trường Lâm tích cực chuẩn bị cho Khoa tiến vào giải Cờ tướng hạng nhất toàn quốc 1999. Sự chuẩn bị công phu đem đến kết quả tốt đẹp. Khoa liên tục dẫn đầu giải. Cho đến vòng đấu thứ 9 anh chưa hề biết đến thất bại. Song anh cũng phạm một sơ suất nhỏ. Trong bữa ăn mừng thắng lợi anh uống rượu hơi nhiều phải vào bệnh viện. Các bạn hâm mộ hết sức lo lắng vì ngày hôm sau anh phải đấu với KTQTĐS Trương A Minh. Khoa cố gắng đến thi đấu và bị Trương A Minh đánh bại. Đấy là ván thua duy nhất của anh trong giải. Hai ván sau anh gặp Mong Nhi và Trương Lê Hoàng. Khoa thắng cả hai và đứng đầu giai đoạn I. Bước sang giai đoạn II Khoa thắng KTQTĐS Trịnh A Sáng bằng hai ván cờ đầy sức thuyết phục, đoạt ngôi quán quân. Đây là lần đầu tiên một VĐV trưởng thành từ trung tâm cờ Hà Nội giành được ngôi vị ấy.