[b]Đáp:[/b]
Hàng năm Việt Nam thường tổ chức những giải dưới đây (cấp quốc gia):
*Giải Vô địch cá nhân toàn quốc – còn gọi là giải hạng nhất hay giải A1 để chọn ra các nhà nam, nữ vô địch quốc gia
*Giải Vô địch đồng đội toàn quốc – còn gọi là giải A2
*Giải các đấu thủ mạnh
*Giải trẻ – còn gọi là giải Thanh thiếu niên nhi đồng
*Giải cờ nhanh
Related Posts
Cờ mù
- Cao Thân
- 08/04/2006
- 0
[img]xq505-0.jpg;right;Hồ Vinh Hoa[/img][b]Lời tác giả:[/b] [i]Thưa quí vị, tôi xin được đóng góp bài viết về đề tài “Cờ Mù”, tôi rất hoan hỷ nếu bài viết này được đăng tải cho các bạn đọc yêu cờ cùng nhau thưởng thức.[/i]
Chắc quí vị đã từng nghe nói nhiều về các đại kiện tướng cờ vua cũng như cờ tướng có khi thi đấu biểu diễn cả chục người cùng lúc, và cũng nghe nói nhiều về cờ mù (thi đấu mà không nhìn vao bàn cờ!) mà một người lại thi đấu với nhiều người! Chắc nghe nói thì nhiều nhưng ít có ai được chứng kiến tận mắt, thi đấu mà không nhìn vào bàn cờ, nếu 1 đấu 1 thì có thể tin được, nhưng nếu nói 1 mà đấu với 5-6 hoặc hơn thì có vẻ khó tin quá phải không quí vị? Đây cũng là điều mà tôi vẫn hoài nghi cho tới khi tôi tận mắt chứng kiến và xin được kể lại sau đây:
Vào ngày 28 tháng 12 năm 1998, tại nhà hàng Cathay Golden Nugget ở Melbourne Úc Châu, phái đoàn Cờ Tướng Trung Quốc gồm có Hồ Vinh Hoa, Hứa Ngân Xuyên, và cô Kim Hải Anh (vô địch nữ Trung Quốc năm 98), sau khi đã biểu diễn những trận đấu: 1 người đấu với nhiều người như thường lệ, ông Hồ Vinh Hoa đã biểu diễn 1 trận CỜ MÙ mà tôi đã chứng kiến và vô cùng khâm phục ông, và nỗi hoài nghi về trận cờ mù giữa 1 người đấu với nhiều người trong tôi mới thật sự chấm dứt.
Trước khi đấu, Ông Hồ Vinh Hoa nói ông ta lúc trẻ có thể thi đấu với khoảng 15 người cùng lúc với các ván cờ mù, nhưng để chắc ăn, hôm nay ông chỉ muốn đấu với khoảng 10 người mà thôi, nhưng số người tham dự để đấu với ông ta chỉ có được 6 người, còn lại hầu hết đều chỉ muốn xem hơn là thi đấu, ông Hồ Vinh Hoa đã xoay lưng lại với bàn cờ, trọng tài xướng lên những nước đi của ông và của những đấu thủ để mọi người và ông cùng theo dõi các ván cờ. Trước khi thi đấu, 6 người này đã tham khảo ý kiến lẫn nhau, và đều đồng ý sẽ thi đấu 6 loại cuộc khác nhau, 6 người đi trước này, người thì lên tượng, người nhảy mã, người vô pháo đầu, người lên pháo tuần hà, v.v… (nên biết đây là trận đấu nhanh [fast game], nhưng không có đồng hồ), và sau khoảng thời gian 1 tiếng, ông đã hạ gục 5 và hòa 1, người thứ nhất thua chỉ trong vòng 15 phút.
[img]xq505-1.jpg;center;Biểu diễn thi đấu đồng loạt tại Paris 2005[/img]
Tuy làng cờ Úc Châu không có được những kiện tướng quốc tế, nhưng trình độ điểm của những người thi đấu hôm đó theo tôi nghĩ cũng phải vào khoảng trên 2000, những người thi đấu cố tình đi những nước đi lòng vòng (ví dụ như bắt quân 3 lần, chiếu tướng 3 lần) hoặc tốt xàng qua xàng lại ở những nước trung cuộc và cờ tàn để làm cho ông rối tri và quên vị trí các quân cờ, nhưng thật sự ông đã làm cho tất cả mọi người có mặt hôm đó phải khâm phục trong đó có cả tôi.
Còn bạn, bạn vẩn còn hoài nghi về trận CỜ MÙ giữa 1 đấu với nhiều người?
Cờ Tướng Nhập Môn: Chương 1 – Bàn cờ, quân cờ và luật chơi (1)
- Quách Anh Tú, Lê Thiên Vị
- 24/09/2005
- 0
Chương 1
Bàn cờ, quân cờ và luật chơi
Cờ Tướng là cuộc chơi giữa hai đấu thủ điều khiển hai đạo quân đối nghịch giao tranh nhau. Cuộc giao tranh này diễn ra trên một bãi chiến trường là bàn cờ và quân số của hai đạo quân này bằng nhau, từng loại binh chủng giống y nhau, đó là quân cờ. Hai đấu thủ chơi phải tuân theo những quy ước và luật lệ chính xác, rõ ràng được mọi kỳ thủ tôn trọng chấp hành, đó là những luật chơi.
Chương này sẽ giới thiệu đến các bạn các khái niệm, kiến thức chung về bàn cờ, quân cờ và luật chơi cờ Tướng.
[b]Bàn cờ[/b]
Bàn cờ Tướng có hình chữ nhật, có 9 đường dọc và 10 đường ngang giao cắt nhau, tạo thành 90 giao điểm. Giữa bàn cờ thường có một hàng ngang trống (không có đường kẻ đứng) dùng làm ranh giới phân chia hai bên và được gọi là sông (hoặc “hà”). Đây là ranh giới chia hai bên thành hai trận địa đối nghịch nhau, một bên của quân đỏ, một bên của quân xanh.
Mỗi bên có 9 giao điểm nằm trên bốn ô vuông phân biệt với các ô khác bằng các đường kẻ chéo gọi là “cung Tướng”.
[img]xq80-0.gif;center;[/img]
(Hiện nay theo Luật cờ của Liên đoàn cờ Việt Nam, dù mầu sắc quân cờ như thế nào cũng phải qui về hai mầu: trắng và đen. Hình bàn cờ in trong sách, báo được qui ước phía dưới thuộc bên trắng, phía trên thuộc bên đen.)
[b]Cách gọi tên các vị trí[/b]
Để chỉ rõ vị trí toạ độ trên bàn cờ cũng như để ghi được sự di chuyển của các quân người ta qui ước đặt tên các đường dọc và các đường ngang như hình vẽ.
Chín đường dọc được đánh số từ 1 đến 9 và khởi đầu từ bên phải sang bên trái của mỗi đấu thủ. Như vậy cùng một đường dọc, đấu thủ này gọi là lộ 1 thì đấu thủ kia gọi là lộ 9, đấu thủ này gọi là lộ 2 thì đấu thủ kia gọi là lộ 8. Cứ như thế ta thấy tương ứng các lộ 3, 4 với 7, 6. Chỉ có lộ 5 (còn gọi là trung lộ) là giống nhau.
Còn 10 đường ngang thì mỗi bên lại lấy đường ngang dưới cùng của mình làm chuẩn để gọi tên: Tuyến đáy, Tuyến áp đáy, Hàng tuyến Pháo, Hàng tuyến Tốt, Tuyến hà (gọi tắt là hà). Tuy nhiên các tên này ít khi được sử dụng, trừ một số nhà nghiên cứu, bình luận cờ.
Tên các đường dọc được sử dụng thường xuyên, vì các quân cờ đứng trên đường dọc nào thì mang tên đường dọc đó cho dễ nhận và dễ phân biệt.
[img]xq80-1.gif;center;[/img]
Thời xưa, người ta đặt tên cho mỗi giao điểm một tên riêng. Bàn cờ có 90 giao điểm thì có 90 tên. Chẳng hạn, quyển Mai Hoa phổ, bản cổ xưa đặt tên các giao điểm ở đường ngang dưới cùng từ bên phải sang bên trái là: Tương – Các – Gian – Thiên – Hoành – Vũ – Phòng – Tiên – Mang (đối với bên trắng). Còn tên các giao điểm ở tuyến đáy của bên đen lại là: Nhạn – Toán – Thời – Tần – Sĩ – Doanh – Hoang – Khuyến – Trường. Đặt tên như vậy khi quân cờ di chuyển từ vị trí nào đén vị trí nào sẽ nêu tên cụ thể ra, không sợ nhầm lẫn. Người đời sau thấy đặt nhiều tên quá khó nhớ nên đã cải biên lại cho dễ nhớ hơn. Kiểu cải biên nêu trên chưa thật khoa học nhưng đã trở thành thói quen, người ta không chịu thay đổi nữa. Do đó, hiện nay, một số nhà nghiên cứu đề nghị đặt tên các đường dọc theo số thứ tự từ 1 đến 9, lấy bên trắng làm chuẩn và đánh số thứ tự từ trái sang phải. Còn các đường ngang thì cũng thống nhất ghi từ dưới lên trên để các đưòng mang tên a, b, c, d, e, f, g, h, i và j. Từ đó mỗi giao điểm hay mỗi toạ độ sẽ mang một tên khác nhau, chẳng sợ nhầm lẫn, giống kiểu làm của Mai Hoa phổ cổ xưa. Kiểu này khoa học nhưng do không quen nên chẳng mấy ai chịu theo.
Quyển Luật Cờ Tướng do Liên Đoàn Cờ Việt nam ban hành vẫn sử dụng qui ước toạ độ như cũ nên chúng ta chấp hành giữ nguyên như vậy. Hội Liên Hiệp Cờ Tướng Thế Giới cũng không có chủ trương thay đổi những qui ước này thì không có lý do gì chúng ta lại đổi khác đi. Nếu đổi khác thì khó khăn cho các kỳ thủ ta tham dự các cuộc thi đấu quốc tế. Vả lại, đổi khác đi tưởng dễ, hoá ra càng phức tạp hơn, đặc biệt sách báo viết về cờ ghi theo lối cũ, các em thanh thiếu niên học theo kiểu mới sẽ không đọc được các sách này.
Liên công và phối hợp quân lực
- Lý Canh, Dương Điển
- 15/10/2005
- 0
[img]xq128-0.jpg;right;Đội quân đất nung trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng[/img]Cờ Tướng vốn phát nguyên từ chiến tranh, cho nên tìm hiểu về sự phối hợp các binh chủng khác nhau để chiến đấu trong chiến tranh thời cổ đại rất có ích cho việc nghiên cứu chiến thuật cờ Tướng cũng như lịch sử của nó. Ngược dòng lịch sử, từ thời Xuân-Thu chiến đấu chủ yếu là Xa chiến (Xe đánh trận) tức là các loại Xa chiến do ngựa kéo. Như trong “Tả truyện” có ghi quân đội nước Tấn có hơn 700 chiến Xa các loại: dẫn, ương, bán. Trong các cuộc chiến đương thời, chủ lực của hai bên sử dụng là chiến Xa và bộ binh “giáp sĩ” theo Xe mà đánh, ngay cả Vua cũng cưỡi Xe tham gia chiến trận và truy kích quân địch (Tả truyện – Hoàn Công năm 28), cảnh chiến trường lúc bấy giờ là “Xe chạy quân đuổi”, đó chính là chiến thuật liên hợp đồng tác chiến giữa Xe và Sĩ Tốt.
Chiến Xa tung hoành trên bình nguyên rộng lớn rất thuận lợi nhưng khi gặp phải địa thế chật hẹp, quanh co lầy lội, rừng núi… thì Xe khó phát huy tác dụng lúc ấy thì bộ binh có thể dễ dàng vượt qua những chướng ngạy ấy. Cho nên đến thời Chiến quốc thì bộ binh dần dần phát triển mạnh hình thành một bộ phận chủ thể phối hợp với chiến Xa. Sự phát triển của kỵ binh cũng ngày càng lớn mạnh từ đời Triệu-Vũ Linh Vương, kỵ binh bắt đầu phối hợp với bộ binh trong chiến đấu, hình thành các chiến thuật hiệp đồng tác chiến giữa bộ binh, kỵ binh và chiến Xa (tức Xe Mã Tốt), các chiến thuật ấy càng lúc trở nên phức tạp, đa dạng.
Chúng ta đến nay vẫn gọi “đội ngũ” tức là theo “Châu lễ” thì “ngũ” là biên chế cơ bản của quân đội đời Châu. Sĩ binh xuất chinh thì cứ tổ chức năm người thành một “ngũ”. Trong “Quản Tử Tiểu Khuông” có ghi “Tốt ngũ chỉnh tề ở trong, quân chinh chỉnh tề ở ngoài”.
Năm người làm một ngũ là căn cứ vào liên công mà đặt ra, con số năm vốn là con số mạnh (?) nhưng quan trọng hơn là do nhu cầu chiến thuật phối hợp các loại binh khí, năm người với năm loại binh khí phối hợp tác chiến gọi là “ngũ binh”. “Ngũ binh” lại chia làm “Xa binh” và “bộ binh”. Năm loại binh khí của Xa binh là mâu, dáo, dài, kích, đòng (theo “Khảo công ký” và “Tư mã pháp”). Trừ Pháo ra thì Xe Mã Tốt trong cờ Tướng là phù hợp với các binh chủng trong chiến tranh cổ đại, đặc biệt năm Tốt phù hợp với tổ chức “đội ngũ” lúc ấy. Sau khi có sự xuất hiện của Pháo trong chiến tranh thì trong cờ Tướng cũng có “Pháo” làm cho sự tiến công trong cờ càng thêm phức tạp, huyền diệu và đa dạng.
[img]xq128-1.jpg;center;Chiến Xa cổ đại[/img]Sự phối hợp tác chiến của các quân cờ trong cờ Tướng là rất đa dạng, không thể kể hết. Chẳng hạn năm Tốt liên công thì thành thế “ngũ Tốt Cầm Vương”. Xe Mã liên công thì thành “Xa Mã lãnh chiêu” khiến đối phương khó lòng chống đỡ. Xe Pháo liên công hình thành “Hiệp Xa Pháo”, “Cổn địa Pháo” là những sát thế có uy lực dũng mãnh; Xa Tốt liên công gọi là “Trường đoản Xa” sức công sát rất mạnh lại không sợ đổi quân hy sinh. Mã Tốt, Pháo Tốt, Mã Pháo Tốt liên công thiên biến vạn hóa không sao kể hết.
Nhà quân sự phải trải qua nhiều khó khăn gian khổ nghiên cứu binh pháp, dựa vào quy luật chiến tranh để từ đó có những sáng tạo độc đáo giành được thắng lợi huy hoàng. Kỳ thủ cũng vậy, phải ra sức tìm hiểu nắm bắt các phép vận dụng quân lực để tạo ra những sát chiêu tinh diệu, bất ngờ chế thắng. Từ xưa đến nay các nhà thơ thường ca ngợi cơ trí và linh diệu của con người. Xuất kỳ chế thắng cũng giống như tướng soái lập được kỳ công trong chiến trận. Tào Thực viết “Cơ Xảo hốt nhược Thần”. Trong đấu cờ, sự dụng chiến thuật độc đáo, chiêu pháp tinh diệu mà thắng cuộc tạo cảm giác ngọt ngào như được uống dòng cam lộ, thoải mái nhẹ nhàng, niềm vui không thể tả, thật là một sự hưởng thu nghệ thuật vượt ngoài thế tục!
[b]Ghi chú:[/b]
Đây là phần dẫn nhập của quyển sách “Cờ Tướng tàn cuộc Vô địch thủ”, tập 1.