Hai học sinh vừa ngồi học vừa đánh cờ lén trong lớp và bị cô giáo bắt quả tang:
– Cô hi vọng đây là lần cuối cô bắt quả tang các em.
Một học sinh ngạc nhiên:
– Ơ, thế cô xin nghỉ không dậy lớp em nữa ạ?
Related Posts
Tổng kết Giải cờ Tướng máy vi tính lần 1 do Trường ĐHQG Hà Nội và Tạp chí Thế giới vi tính đồng tổ chức
- Phạm Hồng Nguyên
- 29/12/2005
- 0
[b]1. Tác giả và các chương trình dự thi[/b]
Tính cho đến ngày 30/11/2000 chúng tôi đã nhận được tổng cộng chín chương trình của mười một tác giả (có một chương trình do nhóm 3 người cùng làm). Cả 9 chương trình này đều gửi theo đường email (tác giả Nguyễn Phúc Huy còn cẩn thận gửi thêm bằng đĩa mềm đến văn phòng Tạp chí thế giới vi tính ở Hà Nội). Chương trình gửi sớm nhất là của bạn Ngô Minh Thái, gửi từ tháng 8. Các chương trình còn lại đều gửi từ 25-30/11.
Ngay khi nhận được chương trình chúng tôi kiểm tra và phản hồi ngay. Riêng chương trình của Triệu Nguyên (đoán từ chữ Việt không dấu “Trieu Nguyen”) bị treo nên không có một thông tin nào khác về tác giả. Mặc dù chúng tôi đã nhiều lần liên lạc để đề nghị gửi lại nhưng vẫn không liên lạc được. Do đó, chương trình đã bị loại ngay từ vòng kiểm tra đầu tiên. Chương trình Sig power khi được thử sơ bộ đã chạy tốt nhưng mắc lỗi “Run time error 200” trên máy thi đấu chính thức. Chúng tôi cũng đã cố liên lạc với tác giả để lấy bản mới hơn nhưng cũng không được (tuy nhiên chương trình này vẫn được cho tham gia thi đấu).
Như vậy, có tất cả tám chương trình của mười tác giả “tương đối hợp lệ” (sẽ nói thêm ở phần dưới) được ban tổ chức đưa vào thi đấu chính thức. Đây là một số lượng lớn nếu ta biết rằng các giải cờ Vua máy tính đầu tiên cũng thường chỉ có 5-8 chương trình dự thi (trên toàn thế giới). Gần đây cũng thường chỉ đến 12-15 chương trình (cá biệt mới đến trên 20).
Bảng sau là các thông tin về tác giả và chương trình tham gia thi đấu.
(TT Tác giả Tên chương trình Địa chỉ liên lạc)
1. Bùi Quang Minh; BQM & NTH Chinese Chess ’99 ver 1.0;Khoa Công Nghệ, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
2. Phạm Gia Thuỵ, Sig Power, 588/1 Lê Quang Định, Gò Vấp, TpHCM
3. Kha Kim Thanh, The Chinese Chess Competitor, 33/12 Lò Siêu, Quận 1, TpHCM
4. Nguyễn Vũ Hoài, Personal Chinese Chess 2000, 343 Huỳnh Văn Banh, Phú Nhuận, TpHCM
5. Nguyễn Phúc Huy, “Uncle Ho” Chinese Chess v.2E,Số 81, Ngõ 508, Đường Láng Hạ, Hà Nội
6. Ngô Minh Thái, Chinese Chess for everybody, K1-404 Học Viện Ngân Hàng, Hà Nội
7. Nhóm HSV (Trần Việt Hà, Nguyễn Minh Vũ, Trần Thái Sơn), Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++, 4 Bà Huyện Thanh Quan, Ba Đình, Hà Nội
8. Trương Hải Nam, Cannon China Chess, 4, Trần Văn Chương, Hà Đông, Hà Tây
9. Triệu Nguyên, Thangngo
[img]xq283-0.jpg;center;Chương trình Chinese Chess For Everybody ver 10.0 của tác giả Ngô Minh Thái. Giao diện đơn giản và đúng theo yêu cầu tối thiểu.[/img]
[img]xq283-1.jpg;center;Chương trình Personal Chinese Chess 2000 của tác giả Nguyễn Vũ Hoài. Chương trình có dáng vẻ “chuyên nghiệp” nhất (hợp lý và tin cậy cao).[/img]
[img]xq283-2.jpg;center;Chương trình Cannon China Chess của tác giả Trương Hải Nam. Chương trình có màn hình đơn giản “quá mức”. Thiếu các thông tin yêu cầu (tên và địa chỉ tác giả).[/img]
[img]xq283-3.jpg;center;Chương trình Sig Power của tác giả Phạm Gia Thuỵ. Giao diện rất đẹp, công phu và hiệu quả (tốt, tin cậy, đủ các thông tin cần thiết).[/img]
[img]xq283-4.jpg;center;Chương trình BQM & NTH Chinese Chess ’99 của tác giả Bùi Quang Minh. Giao diện hiệu quả (tốt, tin cậy, đủ các thông tin cần thiết).[/img]
[img]xq283-5.jpg;center;Chương trình The Chinese Chess Competition của tác giả Kha Kim Thanh. Giao diện đạt yêu cầu.[/img]
[img]xq283-6.jpg;center;Chương trình “Uncle Ho” Chinese Chess V. 2E của tác giả Nguyễn Phúc Huy. Giao diện hiệu quả (tốt, tin cậy, đủ các thông tin cần thiết).[/img]
[img]xq283-7.jpg;center;Chương trình Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++ của nhóm HSV(Trần Việt Hà, Nguyễn Minh Vũ, Trần Thái Sơn). Chương trình có giao diện rất đẹp và rất công phu.[/img]
[img]xq283-8.jpg;center;Một chương trình không thể thiếu của ban tổ chức – chương trình trọng tài với đủ các thông tin cần thiết để giám sát một trận đấu giữa hai chương trình sao cho chính xác và công bằng. Chương trình này cũng cho phép mọi người có thể tự tay thi đấu với các chương trình tham gia giải.[/img]
Tất cả 8 chương trình thi đấu đều là các chương trình hoàn chỉnh, có khả năng chơi cờ khá tốt. Tuy nhiên 7 trong số 8 chương trình đã mắc lỗi “phạm qui” (theo các qui định của ban tổ chức) ít nhiều như sau (duy nhất chỉ có Personal Chinese Chess 2000 của Nguyễn Phúc Hoài là theo đúng và đủ các yêu cầu):
TT Tên chương trình Phạm qui
1. BQM & NTH Chinese Chess ’99 ver 1.0 Tên gọi chương trình sai qui định; Không hiện tên tác giả (tuy có hiện tên viết tắt) trên màn hình
2. Sig Power Lỗi 200 (Run time error 200); Lỗi giao tiếp file nước đi (theo giao tiếp kiểu cũ)
3. The Chinese Chess Competitor Lỗi giao tiếp file nước đi (theo giao tiếp kiểu cũ)
4. “Uncle Ho” Chinese Chess v.2E Phải bấm thêm phím S mới “chịu” thi đấu
5. Chinese Chess for everybody Lỗi giao tiếp file nước đi (theo giao tiếp kiểu cũ)
6. Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++ Tên gọi chương trình sai qui định; Không hiện trực tiếp tên các tác giả trên màn hình (phải tìm đọc trong menu Help)
7. Cannon China Chess Không hiện tên tác giả trên màn hình
Đa số các phạm qui này có nguyên nhân là các tác giả không đọc hoặc không đọc kỹ các qui định của ban tổ chức (có trong file Giaico.txt đã ban hành từ lâu theo các chương trình mẫu). Tuy nhiên, sau khi họp bàn, ban tổ chức đã quyết định chấp thuận cho tất cả các chương trình phạm qui vào thi đấu với những lý do sau:
*Hầu hết các phạm qui này chỉ là hình thức và chỉ làm công việc của ban tổ chức vất vả hơn. Các chương trình chơi cờ cần phải thể hiện hơn thua nhau ở những ván cờ chứ không phải ở những chi tiết đó.
*Một số qui định như tên gọi (bắt buộc phải là một trong các tên CC.EXE, CC.COM hoặc CC.BAT) là hơi “ép buộc” có thể ảnh hưởng đến sự phong phú trong đặt tên cho đứa con tinh thần của các tác giả. Qui định này sẽ được bỏ trong giải lần sau.
*Các lỗi kỹ thuật (dùng giao tiếp file kiểu cũ) có thể khắc phục được bằng chương trình trọng tài (nhưng chúng tôi không hề “nương” các lỗi khác như nước đi sai luật cờ, nước đi lặp). Một trong các lý do chính để châm trước là các qui định về giao tiếp file kiểu mới được đưa ra khá muộn – tháng cuối cùng nên các chương trình gửi sớm hơn đều mắc phải. Nhiều bạn bận thi nên không kiểm tra các thông báo của chúng tôi hoặc không kịp sửa lại.
*Riêng chương trình Sig Power của tác giả Phạm Gia Thuỵ bị lỗi Error 200 khi chạy trên máy Celeron 500 là một lỗi rất nặng và rất đáng tiếc. Chương trình này có giao diện rất đẹp và công phu. Mặc dù trước đây ban tổ chức đã tuyên bố sẽ không chịu trách nhiệm và loại ngay các chương trình lỗi kiểu này, chúng tôi vẫn thử khắc phục (bằng cách dùng một chương trình sửa lỗi của nước ngoài) và cho thi đấu. Tất nhiên chữa kiểu này không đảm bảo chương trình chạy hoàn toàn đúng mọi chức năng nhưng là giải pháp “vớt vát” nhiều nhất cho tác giả.
[b]2. Tổ chức thi đấu[/b]
Giải đấu đã diễn ra trong những ngày đầu tiên của thế kỷ mới và được thực hiện tại khoa Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội, là nơi có cơ sở vật chất tốt, đội ngũ kỹ thuật và khoa học mạnh, có nhiều kinh nghiệm tổ chức các giải về công nghệ thông tin quốc gia. Để đảm bảo giải được thực hiện tốt, ban chủ nhiệm khoa đã cử một đội ngũ đông đảo các giảng viên và kỹ thuật viên lên đến 16 người (gấp đôi số chương trình thi đấu) tham gia với các nhiệm vụ tổ chức, điều hành và làm trọng tài. Cùng tham gia và giám sát với ban trọng tài luôn có một hoặc hai đại diện của tạp chí PCWorld Việt Nam. Khoa cũng cho sử dụng hai phòng máy mới thành lập bao gồm toàn máy tính mạnh có cấu hình giống nhau (Celeron 500 Mhz, 64 Mb RAM, hệ điều hành Windows NT 4.0 nối mạng).
Các máy tính được chia thành từng nhóm ba máy. Hai chương trình thi đấu sẽ được chạy trên từng máy riêng biệt để tránh xung đột và ảnh hưởng lẫn nhau. Chương trình trọng tài chạy trên máy thứ ba sẽ đóng vai trò cầu nối và điều hành hai chương trình thi đấu. Nó cũng làm nhiệm vụ tính thời gian và kiểm tra có chương trình nào đi sai luật không và quyết định xem chương trình nào thắng hoặc hoà. Các chương trình thi đấu và trọng tài đều phải ghi biên bản thi đấu để con người xem xét và quyết định cuối cùng.
Các trận đấu chính thức được diễn ra trong vòng hai ngày. Ngày thứ nhất (2/1/2001) là các trận đấu vòng sơ kết và bán kết. Các trận đấu diễn ra trên 24 máy thuộc hai phòng máy của khoa Công nghệ với sự chứng kiến và điều hành của ban tổ chức, tổ trọng tài, đại diện của trường ĐHQG Hà Nội, đại diện của tạp chí PCWorld VN, một số tác giả có chương trình tham dự và một số thầy cô, sinh viên của một số trường đại học Hà Nội.
Ngày thứ hai (6/1/2001) là các trận đấu chung kết, chạy trên 12 máy tính và được tổ chức tại hội trường lớn của ĐHQG với sự chứng kiến đông đảo của giới truyền thông, đại diện các tổ chức khoa học, tài trợ và rất nhiều người hâm mộ. Buổi lễ đã diễn ra trong bầu không khí trang trọng và sôi nổi. Đây là ngày hội thật sự của khoa học, công nghệ, máy tính và cờ Tướng. Ban tổ chức mong muốn những giải cờ như thế này sẽ tôn vinh những người tham gia và khuyến khích mọi người thêm say mê công nghệ thông tin và cờ máy.
[b]Các qui định thi đấu (bổ xung):[/b]
Ngoài các điều lệ thi đấu ban hành đã lâu, để tiến hành giải dễ dàng, chúng tôi đã đưa bổ sung thêm thêm các qui định như sau:
*Tổng thời gian mỗi bên được “nghĩ” là 1 giờ 20 giây. So với qui định trước (1 giờ) thì 20 giây được thêm vào để bù cho tổng thời gian trễ trên đường truyền và thời gian trễ để tránh xung đột đọc / ghi file.
*Các chương trình thi đấu theo cặp, mỗi cặp phải tiến hành hai trận đấu để mỗi bên được đi trước một lần cho công bằng.
*Chương trình thắng được 1 điểm, hoà được 0,5 điểm, thua được 0 điểm.
*Trong trường hợp có hai chương trình bằng điểm nhau sẽ phân loại theo đối kháng, chương trình nào có tổng điểm các trận đối kháng cao hơn sẽ đứng trên. Nếu vẫn chưa phân loại được sẽ giải quyết bằng bắt thăm (sở dĩ không cho tiến hành lại trận đấu để tiết kiệm thời gian, công sức và tránh lặp lại kết quả).
*Tám chương trình thi đấu được chia thành hai bảng A, B, mỗi bảng có 4 chương trình cho thi đấu vòng tròn để lấy mỗi bảng hai chương trình có thứ hạng cao nhất vào vòng trong.
*Vòng bán kết có bốn chương trình. Chương trình nhất bảng này sẽ đấu với chương trình nhì bảng nọ. Hai chương trình thắng sẽ đấu trận chung kết tranh giải nhất nhì, hai chương trình thua sẽ tranh giải 3, 4. Riêng trong các trận chung kết, nếu hai chương trình có cùng điểm sẽ nhận cùng giải (đồng giải nhất hoặc đồng giải ba).
[b]3. Kết quả[/b]
[b]Vòng sơ kết (2/1/2001)[/b]
Các kết quả sau gọi theo tên tác giả chương trình cho tiện:
[b]Bảng A:[/b] Gồm các chương trình của Nguyễn Phúc Hoài, Nguyễn Phúc Huy, Ngô Minh Thái, Trương Hải Nam.
Kết quả thi đấu như sau:
Hoài – Huy: 1-0 Huy – Hoài: 0-1 Hoài – Thái: 1-0 Thái – Hoài: 0-1
Hoài – Nam: 1-0 Nam – Hoài: 0-1 Huy – Nam: 0-1 Nam – Huy: 0-1
Huy – Thái: 1-0 Thái – Huy: 0-1 Nam – Thái: 1-0 Thái – Nam: 0-1
Như vậy chương trình của Hoài đã thắng cả 6 trận và được 6 điểm, đứng đầu bảng. Hai chương trình của Huy và Nam đều thắng 3 trận và thua 3 trận và cùng được 3 điểm. Hai chương trình này đã được ban tổ chức cho bốc thăm và may mắn đã thuộc về chương trình của Huy. Chương trình của Thái đã thua cả 6 trận, không được điểm nào. Như vậy, các chương trình của Hoài và Huy được đưa vào đấu tiếp ở vòng bán kết.
[b]Nhận xét:[/b] Nhìn chung các chương trình trong bảng này chạy tương đối ổn định và thông suốt.
[b]Bảng B:[/b] Phạm Gia Thuỵ, Kha Kim Thanh, Bùi Quang Minh, Nhóm HSV.
Kết quả thi đấu như sau:
Thuỵ – Thanh: 1-0 Thanh – Thuỵ: 1-0 Thuỵ – Minh: 0-1 Minh – Thuỵ: 1-0
Thuỵ – HSV: 0-1 HSV – Thuỵ: 1-0 Thanh – Minh: 0-1 Minh – Thanh: 1-0
Thanh – HSV: 0-1 HSV – Thanh: 1-0 Minh – HSV: 0-1 HSV – Minh: 1-0
Chương trình của nhóm HSV đã thắng cả 6 trận và được 6 điểm, đứng đầu bảng. Chương trình của Minh thắng 4 trận được 4 điểm đứng nhì bảng lọt tiếp vào vòng sau. Các chương trình của Thuỵ và Thanh đều thắng 1 trận và được 1 điểm.
[b]Nhận xét:[/b] Chương trình của Phạm Gia Thuỵ bị lỗi Run time error 200 – một lỗi do các chương trình viết bằng ngôn ngữ lập trình Pascal luôn mắc phải khi chạy trên các máy tính chạy nhanh. Nếu theo qui định nghiêm ngặt thì chương trình phải bị loại ngay từ đầu. Nhưng ban tổ chức đã dùng một chương trình chuyên dụng (TpPatch) để chữa chương trình và vẫn cho tham gia giải. Chương trình có một số nước đi khá sắc sảo nhưng luôn hiểu nhầm mình là người đi trước nên luôn thua ở các ván mà nó phải đi sau và thua ở một số ván khác do đi sai luật. Chương trình của Kha Kim Thanh thường đi rất chậm và có vài ván thua do hết thời gian.
[b]Vòng bán kết (2/1/2001)[/b]
Bốn chương trình lọt vào vòng này là chương trình của Hoài, Huy (bảng A), HSV và Minh (bảng B) được cho đấu chéo với kết quả như sau:
Hoài – Minh: 1-0 Minh – Hoài: 0-1
HSV – Huy: 1-0 Huy – HSV: 0-1
Các chương trình của Hoài và HSV đã toàn thắng (thắng cả hai trận và giành 2 điểm) vào đấu với nhau trong trận chung kết tranh giải nhất nhì. Hai chương trình của Huy và Minh tranh giải ba bốn.
[b]Vòng chung kết (6/2/2001):[/b]
Hoài – HSV: 1-0 Minh – Huy: 1-0
HSV – Hoài: 0-1 Huy – Minh: 0-1
Như vậy, chương trình Personal Chinese Chess 2000 của Nguyễn Vũ Hoài đã thắng cả hai trận chung kết và giành vị trí thứ nhất; chương trình Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++ của nhóm HSV đứng thứ hai; chương trình BQM & NTH Chinese Chess ’99 của Bùi Quang Minh đứng thứ ba; chương trình “Uncle Ho” Chinese Chess của Nguyễn Phúc Huy đứng thứ tư.
[b]Đánh giá chất lượng kỹ thuật[/b]
Giải cờ Tướng máy tính lần thứ nhất rất mới mẻ với mọi người. Có lẽ điều lo lắng nhất đối với các chương trình dự thi là những vấn đề kỹ thuật rồi mới đến chất lượng cờ. Các trận đấu cho thấy còn nhiều vấn đề vướng mắc và nhiều tiếc nuối. Nhiều chương trình đã thua do nước đi không đúng luật hoặc đi lặp: ba trong bốn chương trình bị loại ngay từ vòng đầu bao gồm The Chinese Chess Competitor, Chinese Chess for everybody và Sig Power. Chương trình giải tư “Uncle Ho” Chinese Chess cũng đã phải nhờ vòng bắt thăm may mắn mới qua nổi Cannon China Chess – dù trong ván đối kháng cuối cùng với chương trình này, “Uncle Ho” còn Xe, Pháo, Mã, hai Sĩ đấu với Tướng đối phương “trần trụi” (không còn quân nào khác) nhưng đã để đối phương lấy mất điểm đó (thua) do đi quân Xe lặp lại một thế cờ cũ. Anh Huy – tác giả của chương trình đã thú nhận rằng do chưa hiểu hết cách cài đặt khá tinh vi cho luật này (của chương trình mẫu) nên đã sửa lại theo ý mình và không còn chính xác nữa. Chương trình giải ba BQM & NTH Chinese Chess ’99 cũng ngậm ngùi theo cách khác: là chương trình chạy nhanh nhất giải nhưng cái nhanh này không phải do tác giả mong muốn. Chỉ vì cho rằng một nước đi không được quá 30 giây (thật ra trong điều lệ ghi rõ là 15 phút – gấp 30 lần) nên đã bắt ép chương trình mình phải đi thật nhanh. Khi giải đang diễn ra, ban tổ chức đã phải từ chối lời đề nghị của tác giả cho cập nhật chương trình với chỗ sửa duy nhất là thời gian. Nếu chương trình này được nghĩ lâu hơn thì có thể thứ tự sắp xếp các chương trình đoạt giải bị đảo lộn. Chương trình giải nhì cũng thua một ván “đau” do đang thi đấu với chương trình giải nhất lại tự bật ra một thông báo lỗi (mà chính các tác giả cũng không biết ở đâu ra) và đứng ỳ không chịu đi tiếp – ban tổ chức đành chờ cho hết thời gian tối đa của một nước 15 phút và công nhận đối phương thắng cuộc (trước và sau trận đấu chính thức này, chúng tôi đã cho hai chương trình này thi đấu với nhau nhiều lần, quan sát được vài lần lỗi này và khẳng định là của chương trình thi đấu).
Nhìn chung về mặt kỹ thuật, các chương trình đoạt giải rất xứng đáng với vị trí của chúng. Đó là các chương trình có lỗi ít nhất, gọn nhẹ, giao diện đẹp và hiệu quả, sử dụng dễ dàng (mà điển hình là chương trình giải nhất của Nguyễn Vũ Hoài). Chương trình của nhóm HSV cũng được chúng tôi đánh giá cao nếu xét theo khía cạnh đẹp và thiết kế công phu.
Sau đây là một vài số liệu lý thú về mặt kỹ thuật:
*Có 3 trong 9 chương trình dự thi phát trên trên môi trường Windows. Các chương trình còn lại phát triển trên môi trường MS DOS.
*Chương trình gọn nhất: Cannon China Chess, 10 kb.
*Chương trình lớn nhất: Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++, 1417 kb.
*Chương trình có giao diện đơn giản nhất: Cannon China Chess.
*Chương trình có giao diện đẹp nhất: Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++ và Sig Power.
*Chương trình chạy nhanh nhất: BQM & NTH Chinese Chess ’99, trung bình một nước đi chỉ trong vòng 10-30 giây.
*Chương trình có nhiều nước đi lâu nhất (xấp xỉ hoặc quá qui định 15 phút tối đa cho một nước đi): The Chinese Chess Competitor.
*Chương trình ổn định nhất (chúng tôi không hề gặp bất kỳ một lỗi nào): Personal Chinese Chess 2000 và Cannon China Chess.
*Chương trình không chạy: Thangngo.
*Chương trình phạm luật nhiều lần nhất: Sig Power.
*Ván đấu có nhiều nước đi nhất: giữa “Uncle Ho” Chinese Chess (đi trước) và Cannon China Chess. Một bên đi được 86 nước, một bên đi được 85 nước.
*Ván đấu lâu nhất: giữa Chinese Chess for everybody và “Uncle Ho” Chinese Chess. Tổng thời gian cả ván là 101 phút.
*Tổng số ván đấu chính thức: 32 (24 ván sơ kết, 4 ván bán kết, 4 ván chung kết).
*Có 20 ván thắng do chiếu bí đối phương; có 4 ván một bên thua do hết thời gian trước; có 8 ván bên thua do đi sai luật (đi lặp hoặc sai luật đi quân).
*Giải không có ván nào hoà (nhưng có một ván đấu thử không chính thức duy nhất hoà khi cả hai chương trình đã mỗi bên vượt quá 400 nước). Đối với các ván thua do một bên hết thời gian trước, chúng tôi chưa bao giờ phải dùng đến luật hoà khi chênh nhau không quá 5 phút (do thời gian chênh nhau quá lớn).
*Tổng số máy tính dùng cho giải: 30 máy (24 máy dùng chính thức, 6 dự bị).
[b]Đánh giá chất lượng cờ[/b]
Phải nhìn nhận chất lượng cờ của các chương trình không ở mức có đẳng cấp như nhiều người kỳ vọng mà mới ở mức khá. Có lẽ chúng đều chưa phải là đối thủ của chương trình Chinese Chess Master III của Đài Loan (tuy có thể thắng được các mức thấp của chương trình này). Trong khi thi đấu hầu hết đều đi những nước – mà theo lời anh Phương, huấn luyện viên cờ quân đội, thuyết minh hôm thi đấu chung kết – nói nhẹ nhàng là “người không ai đi giống vậy”. Nhiều ván đấu (đặc biệt ở vòng sơ kết) có chất lượng chơi rất kém. Tuy nhiên, ta vẫn có thể gặp nhiều ván khác có những nước đi rất hay, với những cách thí quân, ăn quân, chiếu bí hết sức độc đáo. Chúng đã làm chúng tôi – những người bắt buộc phải theo dõi toàn bộ các trận đấu, say mê và vơi bớt mệt mỏi. Với một thời gian đầu tư ngắn, nhiều người còn phải học chơi cờ trước khi bắt tay vào viết chương trình thi đấu các kết quả đạt được là khá mĩ mãn. Với số đông, nó tỏ ra phù hợp và rất có ích.
Xin kể một vài chi tiết thú vị để các bạn tự đánh giá chất lượng các chương trình đoạt giải:
1) Ông trưởng ban tổ chức – GS Hồ Sĩ Đàm (phó khoa Công nghệ) là một người yêu và chơi cờ tốt. Ông đã thử đấu với chương trình chạy nhanh nhất – BQM & NTH Chinese Chess ’99 của Bùi Quang Minh (mà về sau đoạt giải ba). Chương trình này chỉ trong thời gian nghỉ trưa đã kịp “hạ” ông trưởng ban với tỷ số 6-2. Có lẽ ông đã bị cuốn theo lối chơi “siêu tốc” của chương trình này nên đã thua đậm chăng!
2) Trong ngày tổ chức các trận chung kết, ban tổ chức đã đặt ngoài sân hai máy tính để mọi người ham thích có thể trực tiếp thi đấu với hai chương trình đang tranh giải nhất nhì (đấu qua chương trình trọng tài). Có phần thưởng cho người thắng: lúc đầu qui định phải thắng hai trận đi-về (cho công bằng với máy) mới thưởng, về sau phải hạ xuống còn một – với phía người luôn được đi trước. Hai máy này luôn có một số lượng lớn các sinh viên đứng xem để hò hét, cổ vũ và “gà cờ” thoải mái – tất nhiên chỉ cho phe người. Số lượng người thử rất nhiều vì hầu hết mọi người vào thi đấu đều đứng dậy ngay do bị máy nhanh chóng dồn vào một thế cờ đầy thất vọng. Chương trình Personal Chinese Chess 2000 giải nhất của Nguyễn Vũ Hoài đã giữ tốt danh tiếng bằng cách không để một ai qua mặt. Chương trình Intelligent Chinese Chess Playing Program Pro++ giải nhì của nhóm HSV chỉ thua một trận duy nhất trước một bạn trẻ: bạn này đã sớm nhận ra máy rơi vào một tình thế chiếu “quẩn” nên đã khôn khéo đi các quân sao cho máy luôn tốn thời gian để chiếu lặp mãi (mỗi lần lặp lại hơi khác nhau thôi) và máy bị thua do hết giờ trước dù đang ở thế cờ hơn. Hỏi thêm mới biết, bạn trẻ đó lại là em trai của một tác giả nhóm HSV!!!
[b]4. Hướng tới tương lai[/b]
Giải cờ Tướng máy ĐHQG Hà Nội và Tạp chí Thế giới vi tính lần một đã thành công tốt đẹp. Các thứ hạng đã được sắp xếp. Thua thắng trên bàn cờ đã diễn ra. Đó là các trận đấu đẹp về trí tuệ và lao động. Bây giờ là thời gian để đúc kết các bài học và chuẩn bị cho lần giải sau. Chắc chắn có nhiều người đã tham gia giải lần này đang “nung nấu” ý chí đoạt giải lần sau. Nhiều bạn khác cũng đã hoặc sắp bắt tay vào làm chương trình mới. Chúc các bạn thành công và chúng ta hãy hẹn gặp nhau trong trận đấu tới.
Các bước học chơi cờ cho đúng phải như thế nào?
- Amin
- 12/01/2006
- 0
[b]Trước tiên phải học thật kỹ, thật sâu phần khai cuộc.[/b]
Trước đây có một số người cho rằng phần tàn cuộc là phần quan trọng nhất, là phần quyết định thắng thua ván cờ cho nên trước tiên phải học cho được lý thuyết phần tàn cuộc để đảm bảo chắc thắng cái đã, còn khai cuộc chẳng qua là phần ra quân, tùy cơ ứng biến, đi thế nào mà chẳng được.
Tuy nhiên các môn cờ hiện đại đã cho thấy nếu trước tiên không “thuộc bài” khai cuộc thì người chơi sẽ bị thất thế ngay từ đầu ván, bởi mỗi nước đi sai lầm ở khai cuộc đều phải trả giá, nhất là khi các phương án khai cuộc đã được các nhà nghiên cứu đương phân tích hết sức kỹ càng, chỉ ra điểm mạnh điểm yếu của từng phương án và những hậu quả của nó. Ví dụ trong cờ Vua nếu đối phương đi nước đầu tiên là e4 mà anh trả lời bằng h5 là hoàn toàn vô nghĩa, hay trong cờ Tướng đối phương vào Pháo đầu mà anh lại lên Sĩ thì thật là thất thế, cũng tương tự như vậy trong cờ Vây không ai ngay khai cuộc lại đặt quân vào giữa bàn.
Nếu phần khai cuộc không lành mạnh, các quân không chiếm được vị đẹp, cờ thế chênh vênh thì người chơi sẽ phải bước vào trung cuộc yếu hơn đối phương. Thế thì anh lấy “vốn” gì để chơi trung cuộc đây? Đối phương nhất định sẽ khai thác triệt để, khoét sâu vào những điểm yếu đó, khi đó chỉ riêng việc chống đỡ cũng đã quá vất vả, thế thì còn mong lấy gì để thắng đối phương đây?
Ngày nay sách hướng dẫn khai cuộc rất nhiều. Ngoài ra, còn có các đĩa CD chuyên về khai cuộc. Mỗi một phương án ra quân đều được đào sâu một cách thấu triệt và có hàng loạt các ván thực đấu minh họa. Ở cờ Vua đó là những tập sách dạy tới hàng nghìn trang. Ở cờ Tướng sách khai cuộc cũng rất phong phú và ở cờ Vây cũng vậy.
Nắm vững khai cuộc còn giúp cho người chơi đỡ phí quá nhiều thời gian suy nghĩ những nước hiển nhiên đã được sách báo phân tích nhuần nhuyễn cả rồi, trong khi thời gian quy định của một ván cờ là rất eo hẹp, nếu tiêu tốn nhiều thời gian vào khai cuộc thì có khi tới tàn cuộc do bị hết giờ mà thua cờ.
Có người hỏi: phần khai cuộc rộng lớn như thế làm sao học hết được?
Quả thật khai cuộc có rất nhiều phương án. Ở mỗi phương án lại có nhiều biến, từ mỗi biến lại rẽ ra hàng loạt nhánh nhỏ các biến phụ khác nhau. Nếu học cho hết khai cuộc thì cả 5 năm 10 năm cũng chưa chắc thâu tóm được tất cả. Vả lại khi học khai cuộc thì phải học cả cách mở cờ của bên Trắng (đi trước) và cả cách đối đáp (phòng thủ) của bên Đen (đi sau). Ví dụ trong cờ Vua thì có các phương án “khai cuộc” (như khai cuộc Nimzivich, Khai cuộc Tượng…) và “phòng thủ” (như Phòng thủ Sisili, phòng thủ Pháp…). Trong cờ Tướng thì có khai cuộc Thuận Pháo, nghịch Pháo, phòng thủ thì có Bình phong Mã… Trong số khá nhiều khai cuộc mà người chơi cờ phải hiểu biết thì phương pháp tốt nhất là nên đào sâu, nắm vững một số khai cuộc hay được chơi nhất và một số khai cuộc mà mình cảm thấy ưa thích, phù hợp với tính cách chơi của mình nhất, để khi gặp những khai cuộc đó mình hoàn toàn tự tin, làm chủ được tình thế, triển khai vững vàng, linh hoạt, dùng bài bản mà không sợ xảy ra những sai sót. Còn những khai cuộc khác cũng phải biết nhưng dần dần đào sâu sau, bởi một lúc không ai “nuốt chửng” được tất cả.
Có một số kỳ thủ ngay từ đầu học cờ đã muốn đi những nước lạ, những thế trận ít ai chơi tới nhằm gây bất ngờ cho đối phương, giành chủ động ngay từ trận đấu. Điều đó kể ra thì cũng có cái hay, tuy nhiên nếu chỉ ham thích cái đó mà quên học những thế trận cơ bản thì thật là tệ hại, bởi sau khi doạ nạt được đối phương ít ván thì anh sẽ “hết bài”, khi đối phương tìm cách hóa giải được những đòn gian của anh thì cũng là lúc cái “túi rỗng” khai cuộc của anh lòi ra và các đối phương sẽ cho anh “nhừ đòn”. Tức là người ta dùng trường trận để đánh vào cái sở đoản nhất thời của anh. Cách chơi có phần “láu cá”, như trên không phải là cách chơi chính thống của những người chơi cờ thực thụ.
Có một số kỳ thủ lại chủ trương học thuộc lòng càng nhiều càng tốt các phương án khai cuộc. Điều này hoàn toàn không sai, thậm chí là rất đáng khuyến khích, tuy nhiên phải nhớ cho thêm một điều là: đừng quá lệ thuộc vào bài bản. Nhỡ không may đối phương không đi theo đúng bài bản mình đã học thì sao, khi đó bạn sẽ cảm thấy lúng túng hoang mang vì “sách không nói thế!”. Nhà vô địch thế giới Capablanca đã từng có lời khuyên: “Khi khai cuộc bạn có thể gặp nước đáp lại của đối phương mà bạn chưa quen, trong trướng hợp đó bạn sẽ chơi như thế nào? Bạn hãy cứ đi theo suy nghĩ lành mạnh của chính mình, đưa quân tới những vị trí chắc chắn. Có thể bạn chưa đi được nước tuyệt vời nhất, song đó sẽ là bài học cho ván sau. Nếu bạn cho nước đi nào là hay thì cứ đi trước đó. Cần mạnh dạn thực hiện điều mà bạn cho là đúng và hay!” Lời khuyên này không chỉ đúng với cờ Vua mà cũng còn rất đúng đắn với cờ Tướng và cờ Vây nữa.
Nghĩa là khai cuộc không phải chỉ là công việc lắp ráp những nước đi có sẵn trong sách vở. Vả lại cũng không có sách vở nào nói hết được tất cả những vấn đề về khai cuộc. Cờ là một cuộc chơi trí tuệ của mỗi cá nhân, cho nên phương châm tốt nhất đã được các kỳ thủ có kinh nghiệm đúc kết lại như sau: “Sách vở giúp cho ta tránh được những nước đi sai lầm, còn muốn chiến thắng thì phải dựa vào chính sự thông minh sáng tạo của bản thân!”
Quả thật đã có nhiều những quyển sách ở cờ Vua, cờ Tướng cũng như cờ Vây chuyên chỉ ra rất rõ ràng những phương án, những thế biến, những nước đi sai lầm trong từng khai cuộc một để người chơi khỏi phải lặp lại một cách thô thiển. Bạn đã đọc những quyển sách đó chưa? Nếu chưa thì quả là một điều đáng tiếc. Nói rộng ra thì trong bất cứ quyển sách nào về khai cuộc cũng đều chỉ ra những nước đi kém cỏi rất dễ mắc phải của người mới học chơi cờ. Bạn nên lưu ý tới điều này.
Khai cuộc đúng thì vào trung cuộc cảm thấy cờ vững chắc, người chơi tự tin hơn rất nhiều và từ đó tiếp tục ván cờ một các suôn sẻ chứ không bị động. Chính vì vậy tuy khai cuộc có rộng thật nhưng phải cố gắng học đi học lại thật kỹ càng các phương án, nhất là đừng để bị đối phương làm cho bất ngờ lúc ra quân.
[b]Song song hoặc sau phần khai cuộc phải nghiên cứu ngay phần tàn cuộc[/b]. Phần tàn cuộc có một loạt các loại cục chỉ cần học thuộc là được bởi nó có những nguyên tắc cực kỳ chính xác, không cần gì phải sáng tạo thêm cả (ví dụ trong cờ Tướng là những trường hợp Xe chống Sĩ Tượng toàn, Xe Tốt chống Sĩ Tượng toàn, đơn Mã chống Tướng, Tốt chống Tướng…, trong cờ Vua là những trường hợp còn Hậu chống Vua: Xe chống Vua, Mã Tượng chống Vua, hai Tượng chống Vua, quy tắc hình vuông Tốt). Tuy nhiên không phải tất cả đều có khuôn mẫu sẵn, vì vây người chơi phải luyện tập kỹ càng phần này) chớ để cờ thắng tới nơi mà sơ sẩy (dù chỉ một nước!) mà phải thua oan ván cờ!
Sách giáo khoa về tàn cuộc có đặc tính là rất rõ ràng, dễ hiểu và ngắn gọn hơn khai cuộc nhiều, mong rằng những người chơi cờ chớ có chủ quan bỏ qua phần này. Tuy nhiên tàn cuộc hoàn toàn không phải là cuộc chơi đơn giản, bởi trên thực tế có rất nhiều tàn cuộc phức tạp, lúc đó buộc kỳ thủ phải tính toán chuẩn từng nước đi, muốn dẫn tới đích cuối cùng là thắng lợi thì cũng phải dày công nghiên cứu và thử nghiệm hàng nghìn lần trên bàn, dù đó là thế cờ tàn tưởng như hiển nhiên và đơn giản nhất. Hơn nữa ở tàn cuộc thời giờ là cực kỳ ít ỏi, ai đi nhanh hơn, ai thuộc bài hơn, ai chính xác hơn, người đó tất thắng.
[b]Xong hai phần đó rồi hãy nói tới phần trung cuộc[/b]. Phần trung cuộc chính là tinh hoa sáng tạo của mỗi đấu thủ chơi cờ. Có khi chỉ một đòn diệu nghệ ở Trung cuộc cũng đủ làm đối phương “chết ngay”. Học trung cuộc là học phương pháp, học nguyên lý chứ không phải kiểu học thuộc như đối với khai cuộc và tàn cuộc. Việc học để nắm được thủ pháp hình thành được các đòn phối hợp để bắt quân, giành thế, chiếu tướng, chiếu vua là một trong những trọng tâm của trung cuộc. Đòn phối hợp là đỉnh cao của nghệ thuật cờ đòi hỏi phải tính toán cực kỳ sâu xa, trong khi tính sâu xa như thế lại không được phép để “sót nước”, chỉ cần sót một nước là “gậy ông lại đập lưng ông” ngay.
Sách về Trung cuộc hiện nay chưa nhiều, tuy nhiên bạn nên làm quen với những loại sách này, nó có vẻ “khó đọc” hơn các sách về khai cuộc và tàn cuộc, đôi khi sách viết như kiểu để bạn đọc thưởng thức là chính, nhưng thưởng thức được cũng chính là học vậy. Đối với Trung cuộc thì các tạp chí về cờ lại tỏ ra rất có ích, bởi trong các tạp chí thường có những bài phân tích, bình giảng các ván cờ hay mà số chữ không bị hạn chế, lại thường do những bậc thầy về cờ bình chú nên rất có chất lượng. Ở cờ Tướng có các tạp chí như “Tượng kỳ nghiên cứu”, “Bắc phương kỳ nghệ”, “Tượng kỳ Quảng Đông” (xuất bản Ở Trung Quốc)… Ở cờ Vua có “Chess Life” (ở Mỹ, bằng tiếng Anh), “Europe Echecs” (ở Pháp, bằng tiếng Pháp), “64” (ở Nga, bằng tiếng Nga)…
Trung cuộc cũng cho phép ta thả sức mà “đặl bẫy”, “dụ dỗ”, “câu nhử” hay trấn áp, chơi đòn tâm lý, đòn thí quân, thách thức lòng kiên nhẫn của đối phương ở từng nước đi, khiến cho đối phương sa vào thế trận của ta hoặc bị ta lấn dần từng bước mà không thoát được. Nghệ thuật chơi trung cuộc là một nghệ thuật rất năng động, biến hoá, phức tạp, thể hiện một cách toàn diện bản lĩnh, năng lực và sự biến hoá của người chơi được khái quát bằng câu thơ “lạc nước hai Xe đành bỏ phí, gặp thời một Tốt cũng thành công”. Không phải cứ học hết hoàn toàn phần này rồi mới học tới phần khác, thực ra là phải học gối nhau, chỉ có điều là phần nào được sắp đặt trước, phần nào sắp đặt muộn hơn mà thôi. Thông thường người ta học đi học lại từng phần, lần sau nâng cao hơn lần trước.
Toàn bộ việc học lý thuyết cớ có thành công hay không là phải được các ván thực chiến kiểm nghiệm. Nếu anh nói anh đã nắm rất vững lý thuyết mà khi chơi lại bị thua liên miên, thì mớ lý thuyết ấy liệu có ích gì. Điều đó chứng tỏ anh mới nắm vững phần vỏ của lý thuyết chứ phần ruột của nó thì chưa, hoặc là chỉ nắm chung chung trên sách chứ chưa vận dụng thuần thục và nhuần nhuyễn trong các ván cờ thực tế, hoặc anh đã bị lý thuyết “kìm kẹp” làm mất hết cả sự biến hoá sáng tạo của mình trên bàn cờ.
Dĩ nhiên học cờ là cả một vấn đề, không chỉ phải một sớm một chiều theo kiểu “ăn tươi nuốt sống” mà được. Nhưng khi mà các bài bản đã ngấm được vào máu thịt thì người chơi cờ sẽ cảm thấy sung sướng vô cùng, tự tin vô cùng vì đã nắm được cả những bí quyết huyền diệu nhất của một nghệ thuật vô cùng cao siêu, diệu ảo, đem lại cho con người sự thoả mãn chẳng khác nào các nhạc sĩ, hoạ sĩ, thi sĩ trước những tuyệt tác của chính mình sáng tạo.
Chẳng thế mà trên thế gian đã tồn tại những ván cờ bất hủ, được xem là những kiệt tác nghệ thuật lưu đến muôn đời, trở thành những ván cờ, những thế cờ kinh điển còn truyền lại mãi cho lớp hậu thế. Cùng theo những ván cờ đó những chiến thắng đó là những tên tuổi bất tử của những danh kỳ. Cũng chính nhờ thế mà các loại cờ còn trường tồn mãi cho đến ngày nay và cả trong tương lai.
Quyết đấu với tâm không (2)
- Trần Kiêm Đoàn
- 05/04/2006
- 0
Giới hoàng thân quốc thích coi đây như là một sự thử thách đầy quyết liệt đối với danh dự và thế lực của hoàng gia. Giới quan triều cảm thấy như đây là một cuộc chiến tranh đấu trí giữa hai nước. Giới sĩ phu thở phào vì không khí im lặng nghẹt thở của sự thách thức tinh thần được giải tỏa. Quần chúng thì nô nức đón mừng sự cố như một phản ứng giải phóng mặc cảm thế yếu của ta đối với Tàu. Ván cờ quyết định số phận một mất một còn của Thái Ấp và bộ cờ tinh huyết thạch của Hàn gia bên Tàu lan rộng từ trong triều cho đến ngoài nội rất nhanh. Trong không khí thâm nghiêm của cung đình và nếp sinh họat phẳng lặng của một xã hội nông nghiệp, nguồn tin nầy bừng lên như một ngọn lửa rực rỡ làm lu mờ hết mọi thứ. Không một ai nghi ngờ phẩm cách cẩn trọng và tài năng thông tuệ của Trí Hải. Nhưng hầu như mọi người đều nơm nớp lo sợ trước sự ám ảnh của bộ cờ đầy huyền thọai và lịch sử đấu cờ siêu quần, vô địch của Hàn gia.
Những danh sĩ cờ tướng thần kinh và giới hoàng gia, sĩ phu… từ khắp nơi kéo về chốn thần kinh, cố tìm đến dinh ông hoàng để hiến kế, hỗ trợ, chúc lành cho Trí Hải. Lòng tự hào dân tộc ngủ sâu trong lòng nước bỗng vươn mình thức dậy. Một ván cờ tàn mua vui chẳng ai chú ý; nhưng một ván cờ quyết đấu giữa hai danh sĩ của hai nước lại trở thành một biểu tượng mới vượt ra ngoài biên cương cảm tính nhất thời. Những tấm lòng hào sảng mới đến sẵn sàng cho tất cả những gì mình có để chỉ mong được nhận một chút bóng dáng mình mơ. Nhưng tất cả đều thất vọng ra về khi cửa dinh vẫn đóng im lìm và người canh cổng cũng vắng bóng. Lá rụng đầy sân. Đèn nhà không thắp sáng.
Trong bóng tối và đèn chài soi cá hai bên bờ sông Hương, đêm đêm suốt cả mùa trăng, xuất hiện một chiếc đò lớn. Chiếc đò che kín mui, buông chèo để mặc trôi lờ lững trên phía thượng nguồn sông Hương. Từ trong đò có tiếng trao đổi khi nhanh, khi chậm, khi đuổi dồn, khi cách khoảng rất lâu và có lúc thì thầm, lúc bay bỗng đầy thống khoái của hai người đàn ông say sưa đánh những ván cờ mù. Đó là Trí Hải và Phạm Xảo đang luyện cờ như luyện kiếm. Bàn cờ và những thế cờ biến ảo của hai cao thủ nằm ở đâu đó vô hình nhưng hằn sâu trong trí nhớ. Những ván cờ mù đã tiêp diễn giữa Trí Hải và Phạm Xảo gần hết cả mùa trăng. Phạm Xảo trở nên sinh động, khi quyết liệt xông xáo như thời trai trẻ; khi trầm tư ẩn nhẫn như thuở hết thời. Những nước cờ biến hiện khi tấn, khi thoái, khi thủ, khi công… mang nguồn sinh lực năng động của trí óc về với ông già. Giữa mỗi cuộc cờ là một sự hiện hữu. Ông gìa quên đi sự ám ảnh ngày ra đi vừa ẩn hiện trong góc tối trăm năm của đời mình. Phạm Xảo càng linh hoạt trong những cuộc cờ tập trận thì Trí Hải càng thờ ơ trước những nước cờ thượng phong đầy ưu thế. Phạm Xảo càng trầm trồ bái phục tài “đơn xa sát vạn, song mã công thành” của Trí Hải chừng nào, càng ngỡ ngàng thấy rõ tinh thần của vị hoàng thân đang lơ đãng gần như xuống dốc đến hồi thấp nhất.
Trong tâm thức trầm lắng và sâu xa, Trí Hải suy niệm về vòng lẩn quẩn của những ván cờ biến hiện không ngừng. Cũng vẫn những quân cờ tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã… điều động bởi những đầu óc bừng bừng chất lửa, hai đấu thủ mang hai cái tôi to ngút trời quyết đấu. Mỗi bên đều quay quắt trong biển lửa, cố thiêu sống nhau bằng những đòn cay độc nhất. Bên cạnh tài ba cao thấp, vẫn thường xuyên đối mặt với sự thăng trầm phi lý của hoàn cảnh rủi may; của tài năng được thời, thất thế. Kẻ thắng, người thua quần thảo nhau không khoan nhượng. Hết cuộc này, bày cuộc khác. Tất cả trôi đi và trở lại với cùng khuôn mặt trơ lì ngày càng loanh quanh và mệt mỏi. Hai tay cao cờ đệ nhất như Hàn Kỳ Vương và Trí Hải gặp nhau, tất nhiên rồi cuối cùng cũng có người thua kẻ thắng. Bàn cờ không còn là nơi tiêu khiển nữa mà trở thành chiến địa chốn sống tình người. Rồi đây, Trí Hải là bại tướng không đất dung thân hay Kỳ Vương là kẻ mang tội làm điếm nhục gia phong vì không bảo vệ nổi bàn cờ gia bảo. Trí Hải như muốn ngộp thở khi nghĩ đến mạng lưới hệ lụy nhân sinh đang vây bủa lấy những con người. Có chăng một khung trời tự do trong cái cũi sắt vô hình nhưng không có lỗ thưa cho tâm hồn chui lọt đó.
Đến hết cuối mùa trăng tháng sáu thì Trí Hải không còn muốn nhắc đến những con cờ với Phạm Xảo hay với bất cứ ai. Ông trầm tư nghĩ đến những ván cờ một mình. Hết cờ rồi lại cờ. Đầu óc Trí Hải dày đặc với những con cờ, những cuộc cờ, những kẻ chơi cờ. Tất cả chợt biến và chợt hiện bềnh bồng đâu đó. Cờ reo trong gió, cờ đeo vào mây, cờ lung lay theo trái chín, cờ rụng xuống với những giọt nắng quái và lá vàng đầu thu. Đêm mất ngủ vì cờ, ngày quằn quại vì cờ. Những quân cờ quái ác vả vào mặt Trí Hải những đụng chạm mơ hồ nhưng rát mặt. Những ván cờ độc chiêu hết đường công phá xoắn lấy cân não không chịu buông tha.
Đã qua nhiều đêm Trí Hải dồn hết khả năng tinh thần và trí óc như một thiền sư để quán niệm về… cờ. Một nước cờ biến ra thành 10 nước khác. Mười nước cờ khác lại biến ra thành một trăm, một nghìn, một vạn, một muôn, một triệu, một ức, một khối… và cứ thế Trí Hải suy niệm đến 100 lần, cứ mỗi lần sau nhân lên gấp 10 lần trước. Nhưng phía đối thủ vô hình bên kia vẫn quyết liệt đón đầu phản công theo mỗi nước. Hai bên vẫn giằng co nhau không phân thắng bại. Trận quyết đấu âm thầm nhưng dậy sóng ba đào khủng khiếp trong lòng Trí Hải.
Hết suy tư về chiến thuật, chiến lược, Trí Hải lại thả trôi nguồn suy tưởng của mình về triết lý đánh cờ. Mỗi lần trôi dạt miên man như thế, Trí Hải lại nhớ về Paris, nhớ những ngày đánh cờ Tây với hoàng tử Cảnh, nhớ những ván cờ xóm đêm với giới thợ thuyền lao động quanh hè phố, mù trời khói thuốc Gaulois. Có hẹn từ đầu non lịch sử hay không hẹn mà gặp. Cả hai bộ cờ Tây và cờ Tàu đều có 16 quân cờ cho mỗi phe lâm trận. Cờ Tây 8 lính, cờ Tàu 5 lính. Ngự tại bản doanh thì cờ Tây có một vua và một tể tướng, cờ Tàu có một tướng và hai sĩ. Cờ Tây và cờ Tàu đều có 3 cặp voi, ngựa, xe. Cờ Tây không có súng mà cờ Tàu lại có súng. Vua, tư lệnh chiến trường trong cờ Tây, rất năng động và xông pha tung hoành trên mặt trận, trong khi Tướng tư lệnh chiến trường trong cờ Tàu hầu như bị giới hạn ràng buộc tại bản doanh. Lính trong cờ Tàu sang sông để mà hy sinh, bỏ mạng. Lính trong cờ Tây có cơ hội được vinh thăng lên hàng tướng lãnh nếu chiếm lĩnh được những vị trí chiến lược sau cùng trên đất địch.
Trí Hải nghĩ đến cái gốc của cờ tướng phát nguyên từ Ấn Độ, qua Trung Đông, đến châu Âu từ thời trung cổ. Đất Ấn là chiếc nôi của những nguồn lý thuyết siêu nhiên thần bí phương Đông và cổ Hy Lạp là chiếc nôi của lịch sử thần thọai phương Tây. Cờ tướng là một trò chơi tinh thần và trí tuệ để kéo con người và thần linh trở về với thực tại của cuộc sống. Đối mặt nhau trên bàn cờ là đối mặt với sự suy tư và sáng tạo. Vì có suy tư và sáng tạo nên con người mới hiện hữu và kéo được thần thánh từ thiên giới trở về trần. Trò chơi “Thiên biến vạn hóa” nầy rất gần với quan niệm “ngã sở, ngã tính” trong nhiều môn phái triết học nguyên thủy của Ấn Độ từ thời xa xưa, trước cả khi Phật giáo ra đời. Nó thay hình đổi dạng linh động theo hoàn cảnh mà không khư khư bám trụ vào cái “Ta- ngã sở” nguyên thủy của mình. Trò chơi biến hoá như một loài bạch tuộc ma trơi, không có một định tính rõ ràng mà có thể thay hình đổi dạng biến hiện không ngừng. Khi đến đấ Tàu, nó thành Tượng Kỳ, qua Nê Pan, Tây Tạng biến thành “Bụt Chỉ” (Buddhi Chal), vào Nhật thành Tướng Kỳ (Shogi), sang Thái thành Mã Khúc (Makruk), tới Đại Hàn thành Hàn Kỳ (Jianggi)… Trí Hải suy nghĩ về sức mạnh và tài năng của những tay cao cờ tuyệt luân, những kỳ vương Bắc đẩu.
Những tay cờ dòng dõi Hàn gia tiếp nối nhau đánh bại thiên hạ từ đời nầy sang đời khác là do đâu? Câu hỏi cứ lẩn quẩn như một ẩn số không có lời giải. Xưa nay, những nhân vật lẫy lừng trong thiên hạ ngoài tài năng kiệt xuất, còn phải có thủ thuật và bí mật chinh phục, thủ thắng khó so bì. Cờ tướng vừa là một cuộc đấu khả năng vận dụng cực kỳ lịnh hoạt và bén nhạy của trí; vừa là một cuộc thử thách quyết liệt sự kỳ diệu của tâm. Tâm an tịnh thì trí siêu thoáng; tâm bấn lọan thì trí mê cuồng; tâm sâu hiểm thì trí tà độc. Thế nhưng, những chiến thuật và chiến lược trong cờ tướng: Kế sâu, mưu hiểm, đòn ma, chước quỷ đều được tận dụng. Quỷ kế của ma vương hay kỳ mưu của bậc thánh đều được khâm phục trong thuật chơi cờ tướng, miễn sao đạt chiến thắng sau cùng là thành công, là đánh bại được đối phương. Người ta quan niệm dễ dãi như thế vì thù địch và xương máu trên bàn cờ chỉ là giả ảnh của cái đa mưu túc trí ở giữa cuộc cờ. Cái chết sẽ sống lại và sự chiến bại có thể phục thù. Nhưng trận cờ quyết đấu với Hàn gia là con đường mòn một chiều qua núi vì hai đối thủ trên bàn cờ sống thật và chết thật, dù sống chết dưới hình thức nào đi nữa thì một đi là mất lối quay về. Chết rồi không sống lại và chiến bại không còn cơ hội phục thù.
Những đêm sâu quán tưởng về cờ giúp Trí Hải mở dần những vòng trói buộc của những thế cờ trong trí tưởng. Những thế cờ kim cổ ghi trong sử sách như Kỳ Diệu Thư, Tượng Kỳ Bí Sử, Diên Tử An, Quất Trung Bí, Mai Hoa Phổ… là những thánh thư binh pháp của Trung Hoa trong cờ tướng. Đó là những truông hiểm, ghềnh sâu, vực thẳm, huyệt địa, điểm xoáy của dòng sông trôi chảy. Và đó cũng là những cẩm nang, bí kíp truyền đời để dụ địch thủ vào dòng xoáy mà nhận chìm thuyền vào tử địa của trận đồ đã được mai phục sẵn sàng, không lối thoát. Vẻ bình lặng trên bàn cờ chỉ là ảnh ảo để che mắt một trường sóng gió khi ẩn khi hiện, khi thật khi hư mà những kỳ vương đã dạn dày “mặt phong trần nắng rám mày râu…” phải e dè và cẩn trọng.
Một tháng đã đi qua, sự suy tưởng về cờ khi loé lên, khi chập chờn nhưng chưa một phút lụi tàn trong đầu làm Trí Hải liên tưởng đến 5 lối đánh cờ trong sách Kỳ Vương Lục của Vương Giản Chi đời Minh bên Tàu: Tiên kỳ, hội kỳ, phiếm kỳ, tượng kỳ và tuyệt kỳ. Tiên kỳ là những cuộc cờ đầy huyền thọai của tiên ông. Như Hoàng Thạch, Xích Tùng chơi cờ cùng gió cùng mây. Bàn cờ tiên đặt trên thạch bàn trong hang động. Các tiên ông mỗi năm chỉ hội ngộ một lần vào đêm Trung Thu nhưng các thế cờ vẫn đi luân phiên không ngừng nghỉ. Mỗi ông tiên có dịp dừng chân đi một nước trong cảnh núi thẳm mây bay “bạch vân thiên tải không du du” man mác một mình. Có khi hai nước cờ cách nhau cả mấy mùa trăng. Những ván cờ không phân biệt “ta” với “người” mà sự kết thúc mang lại niềm thống khoái thoát tục cho cả hai vị cờ tiên như giờ đắc đạo. Tuyệt kỳ là những trận thư hùng của hai cao thủ với những nước cờ thiên biến vạn hóa. Thế nhưng “… nước cờ nào cũng đòi hỏi sự bao bọc sít sao như vỏ lúa bao quanh hạt gạo. Hở một ly là tạo ra một khoảng cách từ biển đến trời”, như lời của Vương Giản Chi trong sách luận về nghệ thuật đánh cờ.
Y niệm “thắng ván cờ như giờ đắc đạo” chiếm ngự hết ý nghĩ của Trí Hải. Cái Đạo của phương Đông mới là cái gốc của cờ. Đạo là sức mạnh uyên nguyên, là gốc của Dịch. Dịch là tác nhân của Âm Dương để tạo ra tư tưởng, ý thức và hành động. Hàn gia dùng bàn cờ để chiếm ngọn mà nhổ bật gốc nên đã tạo ra cái thế “loạn kỳ” trong thiên hạ. Nên những thế cờ của Hàn Kỳ Vương là những ngọn cuồng phong, là thế tiến công, là uy lực chinh phục.
Trong tâm y lý thường lấy khinh an để trị tác loạn. Trong binh thư cũng có nói: “Biết dấy động đến chín tầng trời, cũng bằng biết dấu mình dưới chín lớp đất.” Ra quân với Hàn Kỳ Vương không phải chỉ đấu cờ đơn giản bằng cách di chuyển, tạo thế những quân cờ sắp sẵn trên bàn cờ mà cần phải biết dùng “đạo kỳ” để đem cái tâm lặng lẽ mà dẹp cái gốc ồn ào dấy loạn. Nhưng biết tìm cái tâm lặng lẽ ở đâu mà dựa; biết tìm cái trí an tịnh ở đâu mà làm vũ khí. Trí Hải càng cố nhắm mắt trầm tư thì những vọng tưởng lại hiện đến. Tạp ý khi phất phơ như gió nhẹ, khi khởi động như đám mây giông. Chúng kéo đến ùn ùn làm cho trí óc xiêu đổ như muốn nổ tung thành sấm dậy.
Trí Hải càng cố giữ tâm não trống không, những tạp ý càng khởi lên cố lấp đầy chỗ trống. Trí Hải cố quay đi để tránh, những tạp ý cứ săn đuổi bén gót. Người ta có thể dễ dàng xua đuổi một con voi nơi bìa rừng, nhưng lại khó khăn rủ bỏ bầy kiến trong ý niệm. Chân cứ sãi dài bước đi thoăn thắt, nhưng đầu không biết đi về đâu. Ra khỏi Thái ấp, qua khỏi mấy đồng lúa và theo lối mòn của vùng nương rẫy, Trí Hải men theo con đường đất đỏ, đá sỏi nhấp nhô. Cuối dốc lên độn sim, độn móc là lối mòn dẫn tới chân núi Trường Sơn. Mặt trời đang xuống dần bên phía Trường Sơn Tây nhắc nhở cỗ xe thời gian đang tụt dốc bên kia sườn đời của tuổi 50. Nắng xế chiều cắt ngang những ngọn cây cao, trả hai phần bóng mát lại cho phía đông Trường Sơn xanh mướt cây rừng trùng điệp.
Có nhà ai gần chân núi đang lên khói. Len lõi qua hốc đá và cây rừng tìm lại gần, Trí Hải chỉ thấy một người đốt than đang bưng nước suối trong ống lồ ô để dập tắt hầm than cháy đỏ. Cũng chẳng để ý có người đang lại gần, người đốt than có vẻ như đang chú mục để hết tâm ý vào công việc. Trí Hải cũng không muốn khuấy động bầu không khí yên tĩnh chỉ có tiếng gió rừng chiều và tiếng xèo xèo của nước dập tắt lửa. Thế nhưng khuôn mặt tự tại và phẳng lặng, cũng như dáng vẻ tươi tắn, linh hoạt của người đốt than giữa một thời điểm về chiều đầy mệt mõi trong ngày có một sức thu hút vô hình níu chân Trí Hải lặng lẽ dừng lại. Thật khó mà đoán biết được tuổi tác của người đàn ông đốt than. Nét từng trãi của tuổi già hòa quyện với nét măng tơ của tuổi trẻ làm cho ông ta có một vẻ gì vừa đáng kính vừa đáng yêu. Tay chân ông ta làm việc thoăn thoắt. Dáng khoan hòa và tươi cười rạng rỡ với chính mình và cảnh vật xung quanh. Khi bếp than tắt lửa và những sợi khói mỏng cuối cùng kéo lên ngọn cây bay xa, người đốt than ung dung leo lên phiến đá phẳng ngồi xếp bàn và nhắm mắt. Ngủ. Trí Hải không thể hình dung ra có người lại vô tư và đơn giản đến như thế. Trí Hải mệt mõi ngồi xuống cách một quảng không xa với người đốt than. Dáng ngồi vững chãi và phong thái hoàn toàn tĩnh lặng của ông ta chinh phục cả sự xao động về chiều của rừng cây lá. Trí Hải nhìn bức tượng người đốt than, nhìn quanh cây lá không màng đua chen danh lợi và nhìn lại mình. Ông ngạc nhiên khi đọc được nỗi bất an đang vây bủa lấy mình. Tại sao bao năm qua ông cố đi tìm một sự an trú tạm thời trong đời sống. Lớp sóng cũ vẫn còn gợn lăn tăn, ông lại để cho những đợt sóng mới phủ lên mình những ngọn trào vật vã. Vì vật cản trên đường đi cần phải dọn hay vì những thách đố phù du?
Trí Hải cảm nhận như có những làn sóng vô hình từ phía người đốt than đang ngủ ngồi trên phiến đá tỏa ra. Ông nhận ra sự yếu đuối của mình và cố co lại để che cho cái tự tính đầy quanh co và phản kháng đang bị chinh phục. Khối lặng im của rừng núi mạnh hơn là tiếng lao xao của thế giới người nhỏ bé dưới kia. Trí Hải cảm thấy như mình nhỏ lại. Chút kiêu hãnh nông nổi bọt bèo tan loãng. Ông líu ríu ngồi xuống để nép mình vào sự im lặng của núi rừng. Đầu óc dày đặc những ý nghĩ về cờ, về tranh thắng, về thủ hòa mỏng dần ra. Trí Hải có cảm tưởng như hơi lạnh của rừng chiều và cơn gió rừng thu ngát mùi tràm chổi đang thổi vào những khoang trống. Đó là không gian nội tâm vừa mới được khai thông trong dòng suy nghĩ còn vướng mắc bao nhiêu chuyện hơn thua giữa cuộc đời nầy.
Trên phiến đá, người đốt than vừa mở mắt đứng lên. Anh ta tươi tĩnh và chẳng có vẻ gì là vừa ngủ dậy. Anh rời chỗ ngồi, đến bới hầm than và chỉ nhặt một ít, rồi hốt bỏ vào cái bao đệm xách tay nhỏ. Anh ta nhìn trời, miệng hát nho nhỏ, không màng nhìn lại cái hầm than còn đầy do công khó anh ta làm ra, rồi xách bị than lửng thửng đi về. Bước ngang qua Trí Hải anh ta vẫn tươi cười, miệng hát nho nhỏ, thản nhiên như thể thêm sự hiện diện của một người nào đó trong khu núi rừng nầy cũng cũng chỉ là thêm một cục đá trong vô số cục đá vô tri, hay là thêm một gốc cây trong muôn vạn gốc cây rừng sinh và diệt chằng chịt muôn năm chẳng có gì đáng để ý.
Trí Hải lên tiếng trước:
– Chào bác tiều. Tình cờ đi ngang qua đây, tính ra mắt chào bác mà bác ngủ say quá nên tôi ngồi đây lâu rồi. Bác ngủ mà lại giống như ngồi thiền, hay thật!
Người đốt than dường như không nghe lời dạo đầu lịch sự của Trí Hải, hỏi lại:
– Thiền là cái chi?
Một câu hỏi gần như ngớ ngẩn phát ra từ một khuôn mặt có vẻ thông minh làm Trí Hải muốn bật cười, nên trả lời rằng:
– Thiền là cái trí giữ nhà và cái tâm đi ngủ!
Người đốt than gục gặc đầu:
– Đứa thức, đứa ngủ thì đứa nào quét nhà?
– Đứa thức không xả rác, đứa ngủ khỏi quét nhà.
– Đứa nào mê đứa nào tỉnh?
– Đứa nào làm tròn việc của đứa đó thì thức là thức, ngủ là ngủ, chẳng có mê hay tỉnh.
Người đốt than lại hỏi:
– Như kẻ đốt than nầy là mê hay tỉnh?
– Vừa tỉnh vừa mê.
– Sao kỳ vậy?
Trí Hải cười:
– Vì bác tiều đốt than theo kiểu nghịch đời. Người ta đốt than là để hầm than và ủ kín cho than tắt chứ chẳng ai lại đem nước suối tưới cho than đang đượm vội tắt như bác cả.
Người đốt than giơ hai tay lên trời cười thoải mái:
– Cây trong rừng thì muôn hình muôn vẻ mà đốt than thì xưa nay chỉ có một cách đốt than hầm thôi à? Người muốn than hầm, than chín; kẻ thích than tưới, than sống. Tìm một con đường riêng mà đi. Quanh quẩn đường mòn về chỗ cũ. Ích gì!
– Than là than mà củi là củi. Than sống mà củi chín ư? Lạ đời!
Sau câu trả lời của Trí Hải, người đốt than nói như nói một mình: “Cây cháy chưa hết ròn. Than non.” Anh ta lẳng lặng quảy bị than lên vai và bước đi, chẳng chào ai một tiếng.
oOo
Gần nửa đêm Trí Hải mới về tới nhà. Niềm an lạc và hưng phấn đến tình cờ giữa buổi chiều ngồi lặng lẽ trong cảnh đốt than giữa rừng không về cùng. Nỗi bồn chồn vẫn theo bén gót Trí Hải. Hình ảnh người đốt than đã gây một ấn tượng mạnh. Anh ta có vẻ như không có tuổi và không bị dính mắc vào hiện thực bon chen của đời sống xung quanh mình. Đêm dài trăn trở không ngủ được, Trí Hải ôn lại cảm giác ban chiều. Người đốt than đem cái tĩnh vào trong cái động; đem thái độ an nhiên tự tại vào trong công việc vất vả của nghề đốt than; đem lối suy nghĩ giản đơn và cụ thể vào trong nếp suy nghĩ rắc rối lẫn mơ hồ thường vây bủa và làm mệt mề đời sống tri thức. Trí Hải cứ băn khoăn tự hỏi tại sao ngồi lặng nhìn gã đốt than mà trong lòng mình lại cảm thấy bình an đến thế.
Hôm sau và hôm sau nữa, Trí Hải tìm đến chỗ bìa rừng cũ nhưng chỉ thấy bếp than lạnh lẽo nằm trơ vơ trong cảnh tịch liêu của khu rừng vào thu.
Rồi một buổi xế trưa khác, khi còn đi mon men dưới chân đồi, lòng Trí Hải bỗng rộn lên niềm vui khi nhìn thấy làn khói đốt than quen thuộc bốc lên nơi khu rừng cũ. Khi tới nơi, bếp than đã tàn và người đốt than đã ngồi ngủ yên trên phiến đá xanh. Trí Hải đến gần và cũng như lần trước, ngồi xuống lặng yên sau tàn cây nhỏ đối diện với người đốt than. Thật lạ lùng, cảm giác bình an lại đến. Những xôn xao của nếp sống đầy hệ lụy dường như đã quyện vào mây trắng lưng chừng núi mà bay về một nơi an nghỉ nào đó mất hút cuối trời. Khuôn mặt và dáng ngồi của người đốt than thanh thoát, an lạc và linh động như những đốm nắng lọc qua kẻ lá giữa rừng. Khi Trí Hải đến đây một mình, khu rừng vắng bóng người cũng thật phong quang và hùng vĩ nhưng vẫn thiếu mất một chút hơi ấm tỏa chiết của linh hồn. Con người là linh hồn của tạo vật. Uy lực của vũ trụ không phải là sấm sét mà là ý thức khai phá và tình cảm yêu thương của loài người. Ngồi lim dim suy nghĩ, Trí Hải cảm nhận sự im lặng của khu rừng và bóng người đốt than đơn sơ trước mặt đang trò chuyện với nhau bằng năng lực cảm thức mà ngôn ngữ là vô ngôn. Một giây an lạc thật hạnh phúc và đáng sống hơn một đời hệ lụy.
Người đốt than mở mắt với nụ cười thoáng rộng và vô tư khi nhìn thấy Trí Hải đã ngồi lặng lẽ ở đó từ bao giờ. Trí Hải chào tươi tắn:
– Chào bác tiều. Hôm nay bác ngủ khỏe hơn hôm trước.
Người đốt than vừa cúi bới hầm than, vừa giải thích:
– Thì cũng cho chúng nó nghỉ ngơi đôi chút.
Trí Hải ngạc nhiên hỏi lại:
– Ngoài bác tiều ra tôi có thấy ai nữa đâu mà gọi là “chúng nó?”
Người đốt than cười cười, vừa uốn éo cái đầu, vừa dang tay, dang chân ra diễn tả:
– Thì cái thằng đầu nầy; thằng mắt, thằng tay, thằng chân nầy…
Trí Hải tròn mắt ngạc nhiên:
– Đầu, mình, tay, chân… là thân thể của bác chứ có phải của ai đem ghép vào đâu mà bác lại phân biệt lạ lùng vậy?
Ra dáng suy nghĩ, người đốt than hỏi lại:
– Tôi hả? Tôi là đứa nào vậy? Có ai cho ai kiếp sống tạm bợ này đâu? Cha mẹ sinh ra một mảnh hình hài. Rồi người sinh con phải nuôi con. Ông làm ruộng, bà bán hàng, chú thợ may… họp nhau thành nhóm, thành làng, thành xã hội góp tay nuôi cho khôn lớn. Rồi cứ xoay vần, đến lượt cái hình hài khôn lớn nầy sinh con đẻ cái, lăn lưng ra làm trả lại theo cái vòng vay vay trả trả không ngừng. Trước khi sinh ra chẳng có hình hài nầy và sau khi chết cũng chẳng còn chi lưu lại. Nhìn trong khoảnh khắc nầy dường như có bác, có tôi. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc sau không ai chắc còn có tôi hay có bác. Hì… hì… chúng nó nghỉ rồi, bây giờ chúng nó phải làm để đổi lấy miếng ăn.
Người đốt than lại trở về với những động tác cũ. Trí Hải hỏi với vẻ ái ngại:
– Vì thấy bác làm nghề đốn củi, đốt than nên tôi mạo muội gọi là “bác Tiều”. Nay đã biết nhau, xin bác cho biết quý danh để xưng hô cho tiện.
Ông tiều xua tay:
– Ôi thôi! Bác để ý làm chi cái danh vị, hình tướng hảo cho thêm bận lòng. Một người, hôm nay là kẻ đốt than, mai kia là gã làm thuê, mốt nọ là đứa chèo đò, kia nữa là cái xác chết trôi… nào ai biết. Nhìn đây nầy. Tổ nhện xây trên tổ chim, tổ chim xây trên cành cây khô, cành cây khô là một phần của thân gỗ mục, thân gỗ mục mọc cheo leo trên ghềnh đá, cái ghềnh đá khập khiểng nầy có thể rơi xuống hố bất cứ khi nào. Thế mà con nhện vẫn thong dong đón mồi, con chim vẫn ấp trứng, nhành khô vẫn đong đưa…
Người đốt than nói chưa hết lời, có tiếng chân thú rẽ lá đuổi nhau, đàn nai chạy qua ghềnh đá. Thấy bóng người, đàn nai chuyển hướng. Nhưng bỗng muộn rồi, phiến đá gập ghềnh mà ông tiều vừa mới nói đã bứt ra khỏi triền núi và rơi dài xuống hố, mang theo lưới nhện, tổ chim, cành khô, thân cây gỗ mục và những con nai đang bị vùi lấp dưới đám bụi mù.
Bóng người đốt than đã đi xa khuất dưới chân đồi. Trí Hải vẫn chưa rời chỗ cũ. Một bụi cây hoang sơ lại là vùng an lạc.
Trí Hải ngồi sâu giữa bóng tối chạng vạng cho đến khi trăng lên. Gã tiều phu và con trăng mùa thu lạnh mát trên kia có một cái gì thật giống nhau mà Trí Hải chưa thể định hình, gọi tên cho rõ mặt. Dòng suy tư chờn vờn và lốm đốm chưa có một hình thù rõ nét như bóng trăng xuyên qua rừng cây. Ánh trăng dát vàng trên lá, nhuộm bạc trên đất, nhưng chỉ một thoáng gió đi qua, lá không còn nguyên điểm cũ thì ánh trăng cũng không còn để lại một dấu vết gì trên lá, trên đất. Cái gã đốn củi đốt than kia cũng thế. Gã không có một chút gì dính mắc dù chỉ là cái tên giả tạm. Gã không quan tâm tự nhận biết mình là ai. Cái đầu, cái tay, cái ý thức của chính gã đều được xem như là một tập hợp nối kết tình cờ và sẽ tan đi chẳng còn dấu vết. Con trăng phủ nhận dấu vết của ánh trăng, cũng như gã tiều phu phủ nhận cái tôi mà ai cũng tự cho là trọng đại của mình. Phải chăng vì thế, nên trăng mãi chiếu hoài muôn phương mà không hết sáng và gã tiều phu ngồi ngủ những giấc dài trong trong vắng lặng mà không bị thảng thốt giật mình bởi hoàn cảnh xung quanh níu kéo.
Sự chiến thắng xưa nay là một cách nói khác của sự sống còn trên xác chết. Sự vinh quang náo nức của người chiến thắng là nỗi tủi nhục ê chề của người chiến bại. Nụ cười của kẻ được là tiếng khóc của kẻ thua. Đôi mắt trong ngần không váng vất chút mê mờ tham vọng và nụ cười vô tư của người đốt than không ngừng hiện lên trong tấm gương soi mình tưởng tượng của Trí Hải. Trận cờ thư hùng sắp đến cứ sau mỗi đêm suy nghĩ lại nhạt dần ý nghĩa ban đầu của nó. Trận cờ như một thách đố phù du. Người thua sẽ bị chôn vùi tên tuổi và sự nghiệp. Người thắng cũng sẽ bị chôn vùi trong tham vọng và kiêu căng. Càng gần đến ngày hẹn đấu, Trí Hải càng ít quan tâm hơn. Không còn những buổi tập trận trên bàn cờ với Phạm Xảo và các danh thủ đất thần kinh. Trong lúc Phạm Xảo và mọi người ở phía phe nầy hay phe kia đang bị thiêu đốt vì sự nôn nóng lẫn lo lắng đang cháy ngùn ngụt về số phận của trận cờ sắp đến thì Trí Hải càng kéo dài hơn những phút ngồi tĩnh tọa trong rừng vắng. Tâm không dính mắc với cuộc cờ nên trí cũng chẳng tư lự với giới hạn hay thế cờ của phe địch phe ta.
Chiều hôm gần tối trước ngày hẹn của trận đấu Trí Hải vẫn còn trải lòng với cỏ cây trong rừng. Khi quảy bao than lên vai, khác với những lần trước, người đốt than đi chậm lại như có ý chờ Trí Hải cùng về. Trí Hải bước theo. Trên con đường rừng gập ghềnh nhá nhem tối, chẳng ai nói với ai lời nào. Chỉ có tiếng lạo xạo khô khan của bước chân trên đường sỏi đá là tâm đắc chuyện trò không ngớt.
Ánh đèn xóm đêm đã thấy xa xa. Người đốt than lên tiếng trước làm vỡ sự tĩnh mịch của buổi chiều trên đường vắng:
– Lý do nào khiến quý hữu vào rừng?
Trí Hải trả lời thành thật:
– Tôi muốn được yên tĩnh.
– Bị đời khuấy động lắm sao?
– Không hẳn thế. Nhưng có lẽ sự khuấy động dấy lên từ trong lòng mình.
– Thất tình, thất bại, thất sủng?
– Chẳng vướng “thất” nào cả.
– Vào rừng được gì?
– Được cái trống không.
– Cho ai?
– Cho một cuộc cờ sắp đến.
– Hiểu rồi!
Cuộc đối thoại thân tình nhưng nhấm nhẳn giữa hai người bỗng rơi vào lặng im. Lời nói không luôn luôn là phương tiện tốt nhất để chuyên chở ý nghĩ làm cho người ta hiểu nhau rõ hơn.
Qua bến đò khi sắp chia tay, người đốt than đột ngột hô lên:
– Pháo 2 bình 5! Đi… !
Trí Hải phản ứng một cách ngỡ ngàng:
– Bác tiều cũng biết đánh cờ mù à?
– Đi!
Sự thôi thúc như ra lệnh của người đốt than khiến Trí Hải phản ứng theo quán tính:
– Mã 8 tiến 7.
– Mã 2 tiến 3.
– Xe 9 bình 8.
– Xe 1 bình 2.
– Tốt 7 tiến 1.
– Hỏng!
– ?!
– Bị dính chặt với những thế cờ đã cũ thì có khác gì mượn cánh vịt đồng mà đòi bay vào vùng trời Đâu Suất!
Sau câu nói của người đốt than, hai người lại im lặng đi cho đến khi về đến khu đồng bằng dân cư. Trí Hải hỏi:
– Làm sao để khỏi hỏng?
– Tìm cái mới!
– Cái mới từ đâu?
– Từ trong cái cũ nhưng thoát ly cái cũ.
– Bằng cách nào?
– Đừng dính mắc!
Hai người lặng lẽ chia tay không một lời chào từ biệt. Cái giao tình bên ngoài có vẻ nhạt thếch. Quân tử chi giao đạm nhược thủy…
Trí Hải về dinh ngủ một giấc say sưa cho đến khi có tiếng gà gáy sáng. Lại tiếng gà tỉnh thức giữa dòng định mệnh trôi theo đường xuôi nẻo ngược. Trí Hải lẩm bẩm trong đêm vắng một mình: “Đừng dính mắc!” Ánh trăng chiếu muôn phương, tiếng gà vang xa khắp nẻo vì không bị vướng vào giới hạn giữa ta với người; không dính mắc vào những sản phẩm của tạo hóa bày ra đã cũ. Rồi trong dòng suy tưởng, cả 32 quân cờ xao xác tìm nhau. Không có bên này Sở hà, bên kia Hán giới. Không có bên nầy đương đầu pháo quá hà xe; bên kia bình phong mã, đấm tốt, bình pháo đổi xe. Những thế cờ đối công phản kích dính chùm giữa cuộc binh đao không lối thoát phải được hóa giải để đi tìm một con đường mới. Những quân cờ phải ra trận, phải đấu nhau như bánh xe phải lăn trên đường cái là chuyện tất nhiên. Không ai sắm những quân cờ để làm hoa trang trí cả. Nhưng quân cờ phải đi theo đường bay tâm trí của hai đối thủ quyết đấu sống chết đang ở giữa cuộc cờ. Làm sao “đừng dính mắc” giữa hai gọng kềm đối kháng mới chính là xương sống của hồi chung cục mà Trí Hải đang miên man nghĩ đến.
[i](Còn nữa)[/i]